Trang

27.5.11

LỊCH SỬ NGÀY CỦA CHA

Ngày của Cha xuất hiện lần đầu tiên vào năm 1910, được khởi xướng bởi Sonora Smart tại Spokane, Washington. Ngày của Cha được xem là ngày dành cho con cái bày tỏ, thể hiện sự kính trọng, yêu thương của mình đối với cha của mình.

Ý tưởng tổ chức Ngày của Cha bất chợt đến với Sonora khi cô đang nghe một bài giảng về Ngày của Mẹ vào năm 1909. Sau khi mẹ cô mất, Sonora cùng với các anh chị em do một tay cha cô – ông William Jackson Smart – nuôi nấng, dạy dỗ. Sonora muốn nói với cha rằng ông quan trọng và ý nghĩa với cô biết dường nào. Cha của cô sinh vào tháng 6, vì thế cô đã chọn tổ chức ngày của cha lần đầu tiên tại Spokane, Washington vào ngày 19 tháng 6 năm 1910.

Vào năm 1972, Tổng Thống Mỹ Richard Nixon đã quyết định chọn ngày Chúa Nhật thứ 3 của tháng 6 chính thức là Quốc Lễ dành riêng cho những người Cha. Như thế, Ngày của Cha đã được hình thành từ ký ức và lòng biết ơn của một người con gái luôn tin rằng cha của cô và tất cả những người cha khác đều xứng đáng được tôn vinh vào một ngày thật đặc biệt.

Như thường lệ, Ngày của Cha năm nay cũng sẽ được tổ chức vào ngày Chúa Nhật thứ ba của tháng 6 – tức ngày 19 tháng 6 năm 2011. Vào ngày này, mọi người thường tự làm thiệp gửi những lời yêu thương, những lời chúc tốt đẹp nhất đến cha mình hoặc mua hoa, mua quà tặng cho cha.

6.5.11

Lịch Sử Ngày Của Mẹ - The Mother’s Day


Cách đây hàng chục thế kỷ, người ta đã thờ Mẹ của các vị Thần. Chẳng hạn, cổ Hy Lạp có thờ Rhea, mẹ của vị các Thần. Cổ La Mã thờ Cybele, vị nữ thần của tạo vật. Ngày lễ kéo dài ba ngày từ 15/3 đến 18/3. Tuy nhiên ngày lễ đó không mang ý nghĩa giống với ý nghĩa như Ngày Của Mẹ hiện nay. Chỉ có ngày “Mothering Sunday” (Ngày Mẹ Sanh) hay “Mid-Lent-Sunday”, cử hành vào ngày Chủ Nhật thứ tư ở Anh Quốc là có ý nghĩa khá tương tự như Ngày Của Mẹ hiện nay.
*
Ở Hoa Kỳ, hàng năm cứ đến ngày Chủ Nhật của tuần lễ thứ nhì trong Tháng Năm, toàn quốc cử hành lễ Ngày Của Mẹ - Mother’s Day để vinh danh Ðời Làm Mẹ (Motherhood), một cuộc đời biểu hiện của lòng hy sinh và tận tụy suốt đời người mẹ cho con. Thi sĩ Hoa Kỳ Edgar Allan Poe (1809- 1849) viết cho mẹ ông bốn câu thơ như sau:

To My Mother
Because I feel that in the Heavens above
The angles whispering to one anther
Can find among their burning terms of love
None so devotional as that of Mother
Dịch là:
Kính Mẹ
Con đang cảm thấy Cõi Trên
Thiên thần thầm kiếm dâng lên nhiều từ
Yêu nào nồng cháy vô tư
Suốt đời tận tụy bằng từ Mẹ đây
(Hải bằng.HDB)
*
Ai đã đứng ra đấu tranh cho ngày Của Mẹ được công nhận?

Câu chuyện về một vị hiền mẫu sắp tóm trình đây không phải là một huyền thoại. Bà ta tên là Ann Reeves Jarvis sinh năm 1833 và mất năm 1905, thọ 72 tuổi. Bà Jarvis lúc 12 tuổi theo cha định cư tại West Virginia. Cha bà là Linh Mục Josiah W. Reeves.
Năm 17 tuổi, bà lập gia đình với ông Granville E. Jarvis và họ có với nhau 11 người con, nhưng chỉ còn sống được 4 cháu. Có lẽ nỗi đau khổ quá lớn lao vì mất mát 7 người con khiến bà quyết tâm lăn xả vào công tác từ thiện xã hội nhằm giúp nâng cao điều kiện vệ sinh lúc đó còn quá thấp kém đã khiến cho số tử vong ở trẻ thơ tăng rất cao.
Tới 26 tuổi, bà bắt đầu kêu gọi tất cả các bà mẹ ở Webster, Philippi, Pruntytown, Fetterman, và Grafton hội tại các nhà thờ địa phương để tổ chức thành những câu lạc bộ lấy tên là Mothers Day Work Clubs (Câu Lạc Bộ Nhật Hành của Các Bà Mẹ). Bà kêu gọi anh của bà là Bác Sĩ James Edmund Reeves và B.S. Amos Payne ở Pruntytown làm cố vấn và thuyết trình viên cho các câu lạc bộ của bà. Câu Lạc Bộ hướng dẫn các bà mẹ cách chăm sóc những gia đình mắc bịnh lao phổi; cung cấp thuốc men cho người nghèo, và sữa cho trẻ em đã được khám bịnh.
Năm 1961, e rằng Cuộc Nội Chiến Mỹ Châu (1861- 1865) bùng nổ sẽ làm tê liệt các hoạt động của Câu Lạc Bộ Nhật Hành, bà Jarvis kêu gọi một cuộc họp khẩn cấp để các hội viên cùng thỏa thuận rằng dù chính kiến là Nam hay Bắc, họ vẫn duy trì tình hữu nghị (friendship) và thiện chí (good will) với nhau trong và sau cuộc chiến.
Khi bịnh sốt thương hàn (typhoid fever) và bịnh đậu mùa (measles) lan tràn trong quân lính, bà Jarvis và các Câu Lạc Bộ của bà được kêu gọi giúp đỡ, bà trả lời: “Quý vị sẽ có sự giúp đỡ. ... Các hội viên chúng tôi sẽ không có sự đối sử sai trái nào. Chúng tôi bao gồm cả sắc phục Xanh (Bắc) và sắc phục Xám (Nam).” Do đó, các Câu Lạc Bộ Nhật Hành đã nhận được những tưởng lục cao quý nhất của các hai phe Nam và Bắc.
Sau Cuộc Nội Chiến Hoa Kỳ (1861 – 1865) để làm nhẹ những nỗi va chạm hậu chiến, một lần nữa, bà Jarvis lại được chính quyền kêu gọi giúp đỡ. Bà tập họp những hội viên tại Tòa Án Pruntytown, và đặt kế hoạch tổ chức Ngày “Mothers Friendship Day” tức Ngày Hữu Nghị Của Các Bà Mẹ tại Pruntytown có mời tất cả binh sĩ Quân Phục Xám hay Xanh và gia đình tới dự.
Một khối lượng người rất lớn đã tới tham dự. Khi chương trình bắt đầu, bà Jarvis xuất hiện trong y phục xám với một bà khác trong y phục xanh. Hai em bé gái trong tuổi mười cùng với ban nhạc trổi lên kêu gọi mọi người tập họp. Bà Jarvis trình bày mục đích của Ngày Hữu Nghị Các Bà Mẹ và yêu cầu ban nhạc hướng dẫn tất cả cùng ca bài “Way Down South in Dixies” (bài dân ca nhạc Jaz rất được ưa chuộng thời đó). Bà mặc y phục Xanh (tượng trưng Miền Bắc) kế đó yêu cầu ban nhạc hướng dẫn bà và khán giả hát bản quốc ca “The Star-Spangled Banner”. Tiếp đó là tiếng hoan hô và tiếng cười. Hai em bé gái cầm tay của bà Jarvis và của bà y phục Xanh yêu cầu họ bắt tay và ôm hôn nhau. Rồi hai bà kêu gọi mọi người cùng làm như vậy trong khi ban nhạc chơi bản “Should Auld Acquaintance Be Forgot” – Xin Hãy Quên Ði Chuyện Ngày Xửa Ngày Xưa - được lược dịch như sau:

Ngày xưa quên đi hãy nên, ngày xưa, hãy cùng đồng lòng quên hết
Hãy nên quên đi ngày xưa để tâm trí mình hoàn toàn thảnh thơi
Có nên quên đi ngày xưa? Ngày xưa có nên đồng lòng quên hết?
Hãy nên quên đi ngày xưa hàm bao nỗi buồn ngày xửa, ngày xưa

Bài này đã được biết tới tại nước ta từ trước 1945 với bài ca có tên là “Au Revoir” tức là “Tạm Biệt” thường được các em hướng đạo hát. Lời của bài “Tạm Biệt” ngày trước không còn nhớ trọn vẹn. Bây giờ xin đặt lời mới như sau:

Giờ đây anh em chúng ta cùng nhau giã từ, lòng càng lưu luyến
Nắm tay ta hãy cùng nhau hòa ca hát bài tạm biệt từ đây
Trước khi chia tay rời xa, cầm tay chúc nhau mọi điều như ý
Chúc nhau gia quyến bình an và mong có ngày lại được gặp nhau

Vào lúc bài “Xin Hãy Quên Ði Chuyện Ngày Xửa Ngày Xưa” kết thúc, hầu như mọi người đều khóc và bắt tay nhau.
Ngoài công việc với Câu Lạc Bộ Nhật Hành, bà Jarvis còn hoạt động tích cực cho nhà thờ. Trong hơn một phần tư thế kỷ, bà dạy các trẻ em học và đã nhìn thấy chúng trưởng thành và lại tiếp tục đem các con của họ đến lớp học của bà. Bà không những là một giáo chức ngoại hạng mà còn là diễn giả tài ba. Nhiều lần bà giảng thuyết trong các nhà thờ có thính giả rất đông về các đề tài như “Giá Trị của Văn Học là Nguồn Gốc của Văn Hóa và Tinh Hoa” (The Value of Literature as a Source of Culture and Refinement) , “Sự Quan Trọng của Những Trung Tâm Giải Trí có Giám Sát cho Học Trò Nam và Nữ” (Importance of Supervised Recreational Centres for Boys and Girls), và “Những Bà Mẹ Vĩ Ðại của Kinh Thánh” (The Great Mothers of The Bible).

Bà Jarvis qua đời vào ngày 9 Tháng 5, 1905, thọ 72 tuổi, và được chôn cất tại West Laurel Hill Cemetery ở Philadelphia. Vào ngày bà an nghĩ, chuông của Andrews Methodist Episcopal Church ở Grafton đổ 72 hồi để tưởng niệm bà.
Năm 1907, vào ngày giỗ mẹ lần thứ nhì, cô con gái của bà Jarvis là Anna Jarvis thuyết phục nhà thờ của mẹ cô cử hành Ngày Của Mẹ vào Chủ Nhật thứ nhì của Tháng Năm và cô khởi sự vận động cho Ngày Của Mẹ được nhìn nhận trên toàn quốc. Sáu năm sau, năm 1914, Tổng Thống Woodrow Wilson tuyên bố Chủ Nhật thứ nhì trong Tháng Năm là Ngày Của Mẹ trên toàn nước Mỹ.
Ngày nay, trên thế giới nhiều nước nhìn nhận ngày Của Mẹ như Anh, Pháp, Thụy Ðiển, Ðan Mạch, Ấn Ðộ, Trung Hoa, và Mexico, ngày lễ kéo dài tới hai ngày. Hoa biểu tượng cho Ngày Của Mẹ là hoa cẩm chướng (carnation): cẩm chướng màu hồng dành cho người nếu mẹ còn sống; cẩm chướng màu trắng dành cho người con nếu mẹ đã qua đời. Nhiều người Việt hải ngoại ngày nay cũng ăn mừng Ngày Của Mẹ. Con cái mua quà tặng Mẹ và đưa mẹ đi ăn tiệm.
*


Từ Mẹ Phát Sinh Từ Ðâu
Khởi đầu cũng mẫu tự “mờ” (M) tạo nên

Công đức của bà Javis thật xứng đáng được ca ngợi. Nỗ lực của con gái của bà tranh đấu cho Ngày Của Mẹ được toàn quốc nhìn nhận là một nỗ lực đầy ý nghĩa. Lòng thương con thể hiện tình thương của Thượng Ðế đối với con người. Bởi vậy từ “mẹ” rất là thiêng liêng tạo một cảm giác hạnh phúc kỳ diệu nơi con người được xưng là “mẹ” và nơi con người cất tiếng gọi “mẹ”. Song, từ “Mẹ” thiêng liêng ấy đã phát sinh từ đâu? Xin quý độc giả nghe bài thơ sau đây diễn tả một ý niệm về từ “Mẹ”:

Một ngày kia ...
Trời, đất đã hoàn thành
Muôn cỏ cây
Hoa lá lộng trời xanh ...

Ðại dương mênh mông
Bình nguyên hiền hòa
Mẹ sinh ra ...
Từ những ý niệm thăng hoa
Mẹ sinh ra ...
Hiện thân của Lộng Lẫy, Bao La
Mẹ sinh ra
Của tận tụy, hiền từ
Mẹ sinh ra
Thiên thần mở hoan ca

Mẹ sinh con
Sứ mạng của Trời ban
Mẹ sinh con
Bích ngọc ý thiên đàng
Và cũng từ những bụi đục trần gian ...
Con lớn lên trong tiếng ru của mẹ
Trong vòng tay che chở của cha
Con vươn lên trong sóng gió của đời

Con có thể quên
Con quên tất cả
Nhưng không thể
Không nhớ mãi những lời ...
Mẹ ru con ạ ời ơi ...
Mẹ đã yêu con suốt cuộc đời
Con thương, con nhớ mãi, Mẹ ơi!
(Hải Bằng.HDB)

Bà Mẹ Việt đầu tiên trong lịch sử Việt là ai?

Lịch sử nhân loại bắt nguồn từ những truyền thuyết. Truyền thuyết thường chứa những huyền thoại có tính triết lý. Ngưới Nhật tự cho mình là con cháu của Thái Dương Thần Nữ. Người Mẹ của giống nòi Việt là Mẹ Âu Cơ xuất phát từ triết thuyết của Vòng Thái Cực âm dương giải thích sự xuất hiện của giống nòi Lạc Hồng: Mẹ thuộc dòng Tiên tên là Âu Cơ và Cha thuộc dòng Rồng tên là Lạc Long Quân. Tiên là biểu tượng của Vẻ Ðẹp tuyệt trần, Nhân Ái vô cùng, và Dịu Hiền hết sức. Rồng là biểu tượng của Uy Dũng vô song, Tự Do vô hạn, và Sáng Tạo không ngừng.
Mẹ Việt Âu Cơ sinh được 100 con trai. Một nửa theo cha xuống biển. Một nửa theo mẹ lên núi. Cả hai cùng hẹn ước với nhau rằng: hễ khi nào có nguy cơ thì báo cho nhau biết để cứu ứng. Từ đó nẩy nở dòng giống gọi là Bách Việt.
Từ thời đại các Vua Hùng dựng nước cách đây trên 4000 năm, có không biết bao nhiêu bà mẹ Việt đã sản sinh những vị hào kiệt, anh hùng, liệt nữ như Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Ngô Quyền, Ký Thường Kiệt, Trần Quốc Tuấn, Lê Lợi, Nguyển Huệ, Bùi Thị Xuân, Ðoàn Thị Ðiểm, Bà Tú Xương, Nguyễn Thị Giang, Nguyễn Thị Bắc, Công Chúa Huyền Trân, v.v.

Thừa hưởng những đặc điểm “Tiên” của Mẹ Âu Cơ, nói chung lớn các bà mẹ Việt có nét đẹp, tính hiền, và tình yêu rất thánh thiện không thể tả hết được. Tuy nhiên, tâm phải có tu tập, thì sự thánh thiện mới sáng tỏ.
Người mẹ mang nặng, để đau, tận tụy chăm sóc con từ lúc mới lọt lòng và lo lắng cho con cho tới khi nhắm mắt. Xã hội có những nhân vật tài giỏi phần lớn cũng là nhờ có các bà mẹ hiền. Những ai có hạnh phúc sống bên mẹ hay đã làm mẹ sẽ thấy nhạc sĩ Y Vân nói về một số những công lao của mẹ qua bài “Lòng Mẹ” thật là tuyệt vời như sau đây:




Lòng Mẹ bao la như biển Thái Bình dạt dào
Tình mẹ tha thiết như dòng suối hiền ngọt ngào
Lời ru êm ái như đồng lúa chiều rì rào
Tiếng ru bên thềm trăng tà soi bóng mẹ yêu

Lòng mẹ thương con như vầng trăng tròn mùa thu
Tình mẹ âu yếm như làn gió đùa mặt hồ
Lời ru man mác êm như sáo diều dật dờ
Nắng mưa sớm chiều vui cùng tiếng hát trẻ thơ

Thương con thao thức bao đêm trường
Con đà yên giấc, mẹ hiền vui sướng xiết bao
Thương con khuya sớm bao tháng ngày
Lặn lội gieo neo, nuôi con đến ngày lớn khôn

Dù cho mưa gió không quản tháng ngày mẹ hiền
Một sương, hai nắng cho bạc mái đầu buồn phiền
Ngày đêm sớm tối vui cùng con nhỏ một niềm
Tiếng ru êm đềm, mẹ hiền năm tháng triền miên

Một lòng nuôi nấng vỗ về những ngày còn thơ
Một tình thương mến như là tiếng đàn, lời ca
Ngày đêm, sớm, tối, khuyên nhủ bao lời mặn mà
Khắc ghi bên lòng con trẻ muôn bước đường xa

Thương con mẹ hát câu êm đềm
Ru lòng thơ ấu, quản gì khi thức trắng đêm
Bao năm nước mắt như suối nguồn
Chảy vào tim con, mái tóc trót đành đẫm sương

Dù cho ai vắng trên đường sớm chiều về đâu
Dù khi mưa gió tháng ngày trong đời bể dâu
Dù cho phai nắng nhưng lòng thương chẳng lạt mà
Vẫn mong quay về vui vầy dưới bóng mẹ yêu

Hình ảnh của các bà mẹ Việt hôm nay thế nào?

Hình ảnh của các bà mẹ Việt hôm nay, không còn là “một nắng hai sương”, không còn là “áo rách sờn vai”, và có lẽ cũng không còn có “những tiếng ru êm đềm” nữa. Người mẹ hôm nay văn minh hơn, đời sống vật chất đầy đủ hơn nhiều, nhưng ít có đủ thì giờ để chăm chút cho con, do đó tình cảm giữa mẹ con cũng không còn đậm đà như thuở trước tuy lòng thương con vẫn không hề phai giảm. Chính điều này làm cho lòng nhiều người mẹ kém an vui. Ðây là một trong những hình ảnh của các bà mẹ thời nay trong bài “Người Mẹ Hôm Nay”:

Mẹ dậy khi con còn ngủ say
Trăng đêm chênh chếch có ai hay?
Mẹ thầm sửa soạn: khi con dậy
Có sẵn cơm ngon đủ suốt ngày

Rồi mẹ rời nhà trời chửa sáng
Ðường xa, xe phóng lướt như bay
Sương đêm đọng giọt mờ khung kiếng?
Mẹ tưởng lệ nhòa, mắt mẹ cay

Bao năm quên sống nuôi con dại
Cho được nên người không kém ai
Muốn con đầy đủ, con ăn học
Ðời con là đời mẹ nối dài

Thôi hãy ngủ ngoan và mộng đẹp
Ước đời con sự học đi lên
Làm tia sáng rọi đường cho mẹ
Mát lòng nghe người nói con hiền
*
Nhưng do đâu, các bà mẹ Việt có được tấm lòng tận tụy cho con như vây?

Có hai nguyên do căn bản. Trước hết là do từ ý Trời dành cho người nữ thiên chức làm mẹ: Trời đã gài đặt trong tâm hồn người nữ tấm lòng thương yêu tuyệt đối dành cho con còn hơn cả cho chồng nữa. Hầu như không có một người nữ nào không cảm thấy tràn ngập hạnh phúc khi thấy mình trở thành người mẹ. Thật vậy:

Con ra đời từ Nguồn Yêu của mẹ
Con chào đời nối Mạch Sống của cha
Nụ hôn đầu, cha nhẹ hôn trán bé
Vòng tay bồng, khóe mắt mẹ long lanh
Phút thiêng liêng: Sự Sống đã hoàn thành
Con tiếp nối cuộc tồn sanh bất diệt
(Hải Bằng.HDB)

Kế đến là do từ ý của con người: người mẹ phải tu tâm và thực hành những giá trị đạo đức làm người đặt trên nền tảng của chữ Thiện như thương người (ấy là Nhân), biết ơn (ấy là Nghĩa), tôn trọng (ấy là Lễ), biết phân biệt phải trái (ấy là Trí), và giữ lời hứa (ấy là Tín). Ðó chính là ý nghĩa của câu:

Thiện căn ở tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài
(Nguyễn Du: Kiều)
Các bà mẹ Việt đều ít nhiều thấm nhuần lẽ Phúc Họa của Ðạo Trời, đạo của người Việt từ ngàn xưa:

Sư rằng phúc họa Ðạo Trời
Cội nguồn cũng ở lòng người mà ra
(Nguyễn Du: Kiều, câu 2655- 56)

Thêm vào là đạo tu thân của Khổng Giáo và đạo tu tâm của Phật Giáo nên lòng thương con hết sức thâm sâu. Bà mẹ nào cũng sẵn sàng hy sinh hết mình cho sự sống của con như trường hợp của bà Nguyễn Thị Nga ở Tân An Hội, Củ Chi, sau 1975: bà ta đã, trong 8 năm liền, lên thành phố Saigòn bán máu mỗi tháng 2 lần để có tiền mua thuốc cho con và tất nhiên chính bà ta cuối cùng cũng ngã bịnh. Nhưng ước muốn chung của các bà mẹ vẫn là con cái được đến trường học cho có tương lai sán lạn hơn bởi vì các bà mẹ nhận chân rằng “để của lại cho con không bằng để lại chữ nghĩa.” Ở Việt Nam hiện nay, số học sinh bỏ học ngày một gia tăng gấp bội khiến rất nhiều bà mẹ hết sức đau lòng.

Quan niệm của người xưa đối xử với mẹ như thế nào?

Mạnh Tử (Trung Hoa) viết:
Người con có hiếu thờ cha mẹ: lúc ở thì tôn kính rất mực; khi nuôi thì vui vẻ hết mực; khi bịnh thì lo lắng hết mực; khi mệt thì xót thương hết mực; khi tế thì nghiêm trang hết mực. Cho nên không yêu cha mẹ mà yêu người ngoài là trái đức; không kính cha mẹ mà kính người ngoài là trái lẽ.

Thiên Khúc Lễ có viết:
Hễ làm con thì khi đi phải cho cha mẹ biết; lúc về phải cho cha mẹ hay; chơi phải có chỗ; tập phải có nghiệp; nói năng chớ bảo mình già.

Ðức Khổng nói:
Tuổi của cha mẹ không thể không biết. Biết để mà mừng; biết để còn lo.

Tăng Tử nói:
Cha mẹ yêu thì mừng mà không quên ơn; cha mẹ ghét thì buồn mà không oán; cha mẹ có sai trái thì can mà không làm phật ý.

Thái Công nói:
Mình hiếu với cha mẹ, con mình sẽ hiếu với mình. Còn mình không hiếu, hỏi sao con hiếu được? Hiếu thuận lại sinh con hiếu thuận; ngỗ nghịch lại sinh con ngỗ nghịch. Chẳng tin, hãy xem nước mái nhà: giọt trước nhỏ sao, giọt sau nhỏ vậy.

Ca dao:
Có nuôi con mới biết lòng cha mẹ.

21.12.09

The Church of Nativity


Hang Đá Bê Lem - Nhà Thờ Giáng Sinh
Grotto of Bethlehem - The Church of Nativity


Tọa lạc cách thành phố Jerusalem 8 km về hướng Nam, nhà thờ Giáng Sinh ở Bêlem là một trong những nhà thờ cổ nhất trên thế giới có sinh hoạt liên tục từ lúc xây dựng vào thế kỷ thứ tư đến nay.

Nhà thờ được xây cất ngay trên hang đá Bê lem. Chứng cứ đầu tiên về hang Bê lem được tìm thấy trong quyển sách của ông Justin Martyr viết vào khoảng năm 160.
Năm 327 thánh nữ Helène, mẹ của hoàng đế Constantin I cho xây cất nhà thờ Giáng Sinh.

Năm 529 nhà thờ bị đốt cháy trong cuộc nỗi dậy Samaritan.

Năm 565 hoàng đế Justinian I cho xây dựng lại và tồn tại đến nay.

Khi Bê lem bị người Ba Tư xâm chiếm vào năm 614, viên chỉ huy Shahrbaraz đã không ra lệnh tiêu hủy nhà thờ này vì nhìn thấy hình ba vị Vua phương Đông với trang phục của dân Ba Tư.

Trong các lần chiến tranh với Hồi giáo, nhà thờ đã ngụy trang bằng cách làm cổng vào nhỏ lại và mặt tiền không có vẽ là nhà thờ. Đó là lý do tại sao ngày nay nhà thờ Giáng Sinh không có chút gì uy nghi cao cả.

Có lẽ nhờ thế, nhà thờ Giáng Sinh đã giữ được tinh thần đơn sơ khó nghèo như lúc Chúa sinh ra cách nay 2000 năm!

15.12.09

Nguồn gốc bản nhạc Silent Night

Đêm thánh vô cùng

"Silent night" đã được dịch thành hàng trăm thứ tiếng và được cất lên hàng triệu triệu lần vào những dịp cuối năm.

Bài hát này vang vọng từ những ngôi nhà thờ nhỏ bé ở Andes cho đến những thánh đường hoành tráng ở Antwerp hay La Mã. Ít ai biết được “Silent Night” lôi cuốn bao người có một nguồn gốc kỳ lạ...

Câu chuyện bắt đầu từ 11-12-1792, tại Salzburg , Áo. Cậu bé Joseph Mohr sinh ra trong gia đình một thợ đan nghèo, cha bỏ đi. Đến ở với bà ngoại nghèo khổ túng thiếu, mỗi khi đói rét, Joseph thường lang thang đâu đó để quên đi. Chính những lần cuốc bộ đó đã làm thay đổi cuộc đời cậu và cả cách thức chào đón Noel trên thế giới.

Một lần, Joseph ghé vào một nhà thờ trong làng và gặp ông Johann Hiernle, người chỉ huy dàn hợp xướng. Joseph bắt đầu tham gia sinh hoạt cộng đồng. Nhận thấy tài năng thơ ca, âm nhạc của Joseph, khi cậu đủ tuổi, Hiernle cho cậu vào học tại một trường ngữ văn nổi tiếng tại Kremsmnster. Rồi Joseph tốt nghiệp trường dòng, được phong linh mục khi vừa 23 tuổi. Về một nhà thờ ở miền núi xinh đẹp, Joseph sáng tác rất nhiều bài thơ. Xúc cảm từ một mùa Noel tuyết trắng phủ không khí yên ắng của đất trời trong một buổi sáng nọ,

Joseph ngồi xuống chiếc bàn gỗ và viết một mạch bài thơ ngắn mang tên “Stille Nacht! Heilige Nacht!” (tiếng Anh có nghĩa là “Silent Night! Holy Night!”; tạm dịch “Đêm thinh không! Đêm linh thiêng!).

Rồi Joseph chuyển đến nhà thờ Thánh Nicholas. Đêm trước Noel 1818, cây đàn dương cầm bị hỏng. Không thể để ngày Noel thiếu lễ nhạc, cha Joseph nảy ra ý định cho ca đoàn hát cùng với tiếng đệm guitar. Thời gian cấp bách, ông nhớ lại bài thơ ngắn “Stille Nacht! Heilige Nacht!” và đ » nghị Franz Gruber (người chơi đàn cho nhà thờ) lo phần nhạc, Joseph đệm guitar và hát giọng nam cao, Franz hát giọng trầm và cứ sau mỗi đoạn thì ca đoàn của nhà thờ sẽ hòa chung phần điệp khúc. Vào gần nửa đêm, giáo dân trong vùng tưởng như thường lệ người chơi đàn đại phong cầm tấu lên những bài ca mừng Noel hùng tráng... Nhưng không, chỉ nghe thánh thót luyến láy tiếng đàn guitar nhẹ nhàng nâng giai điệu Silent Night phảng phất âm hưởng dân ca vùng nông thôn nước Áo chầm chậm lan tỏa ra trong tĩnh lặng thinh không của một thời khắc thiêng liêng…. Một Noel thật đáng nhớ.

Sau đó Joseph Mohr được thuyên chuyển đến nơi khác và trong suốt 7 năm sau đó Silent Night đã chẳng bao giờ được cất lên.

Tình cờ một người thợ tên Karl Mauracher đến sửa đàn cho nhà thờ Thánh Nicholas. Sửa xong, Mauracher mời ông Gruber thử đàn. Khi Gruber lướt phím xướng cho đoạn nhạc mở đầu của Silent Night, Mauracher cảm ngay vẻ đẹp bài hát nên xin đem cả nhạc và lời của “Silent Night” về làng Kapfing. Hai gia đình ban nhạc nổi tiếng Rainers và Strassers được mời thưởng thức và liền bị cuốn hút, quyết định đưa bài hát mới vào các lễ hội âm nhạc mừng Noel. Sau đó nhà Strasser đã đưa Silent Night vòng quanh Bắc Âu. Đến năm 1834, họ biểu diễn cho Đức vua Frederick William đệ IV của nước Phổ, quá ấn tượng, vua truyền lệnh ca đoàn của cung đình phải xướng bài hát này vào mỗi dịp Noel.

Gia đình Rainers thì lại sang Mỹ vào năm 1839 và đã biểu diễn Silent Night bằng tiếng Đức ngay tại Đài tưởng niệm Alexander Hamilton ở bên ngoài khuôn viên nhà thờ Trinity của New York . Năm 1863, Silent Night được Jane Campbell và John Young dịch sang tiếng Anh…

Silent Night vẫn được cho là của các thiên tài âm nhạc như Haydn, Mozart, Beethoven. Mãi đến 1995, cuộc tranh luận mới chấm dứt khi người ta tìm lại được bản viết tay của Joseph Mohr. Ngay trên góc trên bên phải của bài nhạc, Joseph viết “Soạn nhạc: Fr. Xav. Gruber”.
(BT góp nhặt)

BÀI HÁT "SILENT NIGHT"

Năm 1817 cha Joseph Mohr, lúc đó mới 25 tuổi, được bổ nhiệm làm linh mục phụ tá tại nhà thờ Thánh Nicholas ở miền Oberndorf nước Áo. Cậu Mohr ngay từ lúc thiếu thời đã say mê âm nhạc, đã được đặt phụ trách âm nhạc tại một nhà thờ nhỏ; có lúc cậu đã sáng tác thơ và đặt lời cho các bài ca trong các nghi lễ đặc biệt tại giáo đường. Khi trở thành linh mục cha Mohr làm việc không biết mệt mỏi trong các công tác từ thiện phục vụ thanh thiếu niên con các gia đình nghèo khó trong vùng.

Mùa đông năm 1818 cha Mohr đang tận lực sửa soạn cho xong thánh lễ giáng sinh, một nghi lễ mà cha đã hoạch định trước cả tháng. Mọi thứ đều đã xong xuôi, từ bài hát cho đến bài giảng. Nhưng lúc cha dọn dẹp thánh đường mới khám phá ra một trở ngại tưởng không thể khắc phục được: đó là chiếc phong cầm của nhà thờ bị hư. Nóng lòng, cha lui cui hàng giờ đánh vật với hàng phím, bàn đạp của chiếc đàn, có lúc bò cả ra phía sau để mong tìm ra chỗ hư hỏng. Bất chấp cả mọi khó nhọc của cha, chiếc đàn vẫn nằm ỳ ra không lên tiếng, im lặng chẳng khác cái im ắng của một đêm đông giá lạnh.

Nhận thấy không thể làm gì hơn được, vị linh mục ngừng lại và cầu nguyện. Cha cầu xin Chúa cho cha có một giải pháp nào để đem được âm nhạc đến với giáo dân trong một ngày lễ có ý nghĩa nhất trong năm. Có lẽ cha đã tìm được đáp ứng cho lời cầu nguyện của cha phát sinh từ những sự việc xảy ra cách đấy gần cả hai năm.

Năm 1816, lúc phục vụ tại một thánh đường tại Mariapfarr, cha Mohr đã viết một bài thơ Giáng sinh. Bài thơ gồm 6 khổ, cha cảm hứng sáng tác trên đuờng đi bộ từ nhà ông nội đến nhà thờ. Tuy có cho vài người bạn bè xem bài thơ, nhưng cha chưa bao giờ nghĩ đến chuyện phổ biến hoặc có ý nghĩ đem ra phổ nhạc. Khi được đổi đến xứ đạo Oberndorf, cha mang theo bài thơ cùng với số vật dụng ít ỏi của cha.
Tìm lại bài thơ “Still Nacht! Heilige Nacht!” trên bàn viết, cha đọc lại lúc này hai năm sau ngày sáng tác. Từ trước đến nay, những vần thơ đó dường như không mấy quan trọng với cha, nhưng lúc này đọc lại, cha thấy dường như Chúa đã cho cha một tia sáng hy vọng. Bỏ bài thơ vào túi áo cha vội vã ra khỏi nhà. Chỉ còn mấy giờ nữa là thánh lễ nửa đêm bắt đầu, vị linh mục băng qua những đường phố đầy tuyết phủ.

Cũng vào buổi chiều hôm đó, Franz Gruber, người giáo viên làng 31 tuổi đang co ro trong căn phòng nhỏ bên cạnh trường học. Mặc dầu đã theo học phong cầm với giáo sư nổi tiếng Georg Hardobler, Gruber cũng chỉ chơi đàn cho nhà thờ St. Nicholas nhỏ bé. Đang miên man với mấy nốt nhạc trên chiếc đàn thì ông ngạc nhiên nghe tiếng gõ cửa và thấy cha Morh bước vào. Ông nghĩ thầm giờ này thì cha đáng lẽ phải ở nhà thờ sửa soạn làm lễ, giờ đâu rảnh mà dạo quanh thăm viếng bạn bè.

Sau câu chúc mừng giáng sinh vội vã, vị linh mục hối hả kéo ông giáo làng tới chiếc bàn nhỏ trong phòng và ra dấu bảo ngồi cạnh mình. Bằng giọng nói rõ ràng là nản chí, cha kể cho ông nghe nỗi khó khăn trước mặt. Sau khi bảo Gruber rằng chiếc đàn không thể sửa được, cha liền đem bài thơ ra và nói:

- Franz, anh xem có thể viết nhạc cho bài thơ này để ca đoàn hát được không? Không có đàn thì ta chơi guitar vậy.

Rồi vị linh mục đưa mắt nhìn đồng hồ trên bàn, nói thêm: Không còn nhiều giờ nữa đâu.

Đọc kỹ bài thơ, Gruber gật dầu. Ánh mắt và nụ cười của ông chứng tỏ ông chấp nhận thử thách đó. Tin tưởng là Chúa đã sắp đặt mọi sự, cha Mohr vội vã băng qua những đường phố ngập tuyết trở về nhà thờ, bỏ lại Gruber một mình ngồi đó với bao nhiêu ý tưởng, trước một chiếc đồng hồ đang tích tắc kêu và một lời cầu mong xin tìm ra hứng khởi.

Mấy tiếng đồng hồ sau hai người gặp nhau tại nhà thờ. Trong ngôi thánh đường có ánh đèn tỏa sáng, Gruber đưa cho vị linh mục coi bản nhạc của mình. Linh mục chấp thuận, dùng đàn guitar gảy lên những nốt nhạc rồi vội vã chuyển cho ca đoàn đang chờ đợi tập dượt. Công trình tưởng chừng phải mất cả tuần lễ thì nay chỉ cần mấy tiếng đồng hồ là xong. Không có nhiều thời giờ tập dượt, cha Mohr và Gruber chỉ dạy được cho ca đoàn phần hòa âm bốn giọng của mỗi hai câu thơ cuối.

Trong thánh lễ nửa đêm, cha Mohr và Gruber đứng trước bàn thờ giới thiệu bản nhạc nhỏ bé và giản dị của hai người. Họ đâu ngờ rằng “Still Nacht! Heilige Nacht!” không chỉ sẽ được nhớ tới vào ngày Giáng sinh năm sau trong ngôi làng bé nhỏ của họ mà còn được ca hát khắp thế giới gần hai trăm năm sau nữa.

Mấy tuần lễ sau ngày tết dương lịch, anh chàng Karl Mauracher chuyên chế tạo và sửa đàn phong cầm ngụ tại vùng thung lũng Ziller, đến nhà thờ St. Nicholas để sửa đàn cho cha Mohr. Trong lúc anh chàng lui cui sửa chữa, cha Mohr đem câu chuyện cha đã dùng đàn guitar để chơi một bản nhạc phổ bài thơ cũ để cứu vãn đêm giáng sinh vừa qua. Cha hát cho anh chàng này nghe bản nhạc đó, tin tưởng là Chúa đã nghe lời cha nguyện cầu. Thích thú vì bản nhạc, anh chàng Karl lấy giấy ghi xuống bài ca và học thuộc lòng các nốt nhạc. Những năm sau, theo với nghề nghiệp phải đi đây đi đó, anh giới thiệu bản nhạc này với nhiều đô thị và thánh đường.

Vào thế kỷ 19, ở nước Áo và nước Đức có nhiều nhạc sĩ du ca. Mỗi nhóm du ca thường gồm các thành viên trong cùng một gia đình thường không chỉ hành nghề ca hát mà còn làm những việc chuyên biệt khác để có tiền chi dụng trong lúc di chuyển từ nơi này sang nơi khác. Năm 1832, nhóm du ca thuộc gia đình Stasser xuất hiện tại một cộng đồng nhỏ nơi anh chàng Mauracher đang ráp đặt một chiếc phong cầm. Trong thời gian ở đó, nhóm du ca này học được bài “Still Nacht!”. Mấy tuần sau, tại một buổi trình diễn tại Leipzig, nhóm du ca này trình bày bản “Still Natch!” trước một đám thính giả rất đông đến coi hội chợ. Nhận thấy bản nhạc này mang một sứ điệp tinh thần sâu xa, hoàng đế nước Áo William IV truyền cho ca đoàn nhà thờ chính tòa của ông ca bản nhạc này trong nghi lễ giáng sinh hàng năm. Một phần cũng vì lòng ưu ái đó của nhà vua mà nhạc bản này lan tràn ra khắp miền đông Âu rồi tràn qua Anh quốc.

Tháng 12 năm 1839 một nhóm du ca khác thuộc gia đình Rainer tới Nữu Ước. Một phần chương trình của họ là trình bày bản “Still Natch!” bằng Anh ngữ (Silent Night!) trước một cử tọa rất đông đảo tại thánh đường Chúa Ba Ngôi. Bản nhạc trở thành phổ thông và được rất nhiều ca đoàn hát trong các nhà thờ. Vào thời kỳ nội chiến ở Mỹ, bản nhạc “Silent Night” trở thành bài ca giáng sinh phổ biến nhất. Trong trận chiến giữa hai miền nam bắc, không hiếm thấy cảnh ngưng chiến 4 ngày trong dịp lễ giáng sinh, binh sĩ giữa hai miền thù nghịch cùng buông súng, tụ họp lại để dự lễ, đọc Thánh kinh, chia sẻ quà cáp, và cùng ca bài “Silent Night”.

Bài hát càng được phổ biến thì nguồn gốc càng bị phân hóa. Có nhiều lúc các nhà xuất bản gán cho tác giả bản nhạc này là một trong các nhạc sĩ đại tài như Bach, Beethoven hoặc Handel. Chỉ mãi tới khi Franz Gruber gửi tới các báo và các nhà xuất bản bản sao tờ phổ nhạc của mình thì nguồn gốc đích thực mới được công nhận. Mặc dầu vậy, nhiều giai thoại về lời ca của bản nhạc vẫn còn truyền tụng.
Cha Mohr qua đời trong cảnh nghèo khó vào năm 1848 trước khi được công nhận là tác giả bài thơ đuợc phổ nhạc. Cha mất nên không thể chứng minh câu chuyện, do đó mới có truyền thuyết kể rằng bài thơ đã được viết ra vội vã sau khi khám phá thấy rằng chuột đã cắn hại chiếc phong cầm chứ không phải thực ra là chiếc đàn đã quá cũ và bị hư hại vì thời tiết quá lạnh. Truyền thuyết này được nhiều người công nhận, thực ra có vẻ tiểu thuyết hơn là sự thực.

Vào cuối thập niên 1800, bản “Silent Night” đã được phiên dịch ra khoảng hơn 20 ngôn ngữ khác nhau và là nhạc bản không thể thiếu trong các lễ hội giáng sinh trên khắp thế giới. Sang đến thế kỷ 20, nhạc bản này theo với tập tục mừng giáng sinh, đã đi ra khỏi các giáo đường, nhập hội với các tập tục giáng sinh khác.

Vào năm 1905 bản nhạc Silent Night được thu âm lần đầu tiên do ban nhạc Haydn Quartet. Đó mới chỉ là khởi đầu, sau đó bản nhạc đã đuợc thâu âm cả ngàn lần do các ban nhạc khác nhau trên khắp thế giới. Tới năm 1960, Silent Night đuợc công nhận là bản nhạc được ghi âm nhiều nhất trong lịch sử âm nhạc.

Mặc dầu với tính cách phổ thông như vậy, trong tâm trí nhiều người, bản Silent Night được viết ra lúc khởi đầu chỉ là một nhạc bản giản dị, một khúc ngợi ca. Được sáng tác để làm cho nghi thức giáng sinh có ý nghĩa hơn, bản nhạc cũ này vẫn còn mạnh mẽ và tươi mát như lần đầu tiên được hát lên trong ngôi thánh đường nhỏ bé nơi nước Áo xa xôi. Như một lời cầu xin được đáp ứng, Silent Night chỉ với mấy câu thơ ngắn ngủi cũng đủ mô tả được câu chuyện giáng sinh của đấng cứu thế trong máng cỏ nghèo nàn.

30.6.09

MỪNG ‘NĂM LINH MỤC’




TẠI SAO CHÚA CHỌN CON
(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)





Nhân dịp kỷ niệm 150 năm Cha Thánh Gioan Baotixita Maria Vianney qua đời (1859-2009), vào ngày lễ Kính Thánh Tâm Chúa Giêsu (19/6/2009), Đức Giáo Hoàng Benedictô XVI đã long trọng tuyên bố khai mạc NĂM LINH MỤC.



Năm Linh Mục sẽ kéo dài từ ngày 19/6/2009 đến ngày 19/6/2010, để mỗi người chúng ta có thể dành nhiều thời giờ hơn suy gẫm về sự cao trọng của Bí Tích Truyền Chức Thánh và Chức Linh Mục. Cũng là năm đặc biệt để chúng ta dâng nhiều hãm mình, hy sinh cầu nguyện xin ơn thánh hóa cho bao nhiêu linh mục đang âm thầm phục vụ Chúa và Dân Chúa cũng như toàn thể nhân loại ở khắp nơi trên thế giới. Đồng thời cũng là năm để các Linh mục cầu nguyện, suy gẫm và sống chức Linh Mục của mình trong cuộc sống bận rộn hàng ngày, trong nhiều chức vụ khác nhau mà Chúa đã trao ban. Cũng còn là năm để cổ động ơn gọi Linh Mục nơi giới trẻ.

Dù đã sống khá lâu trong cuộc đời Linh Mục, nhưng tôi vẫn luôn đặt câu hỏi “Tại Sao Chúa Chọn Con… dù con chỉ là một con người tầm thường, hèn yếu và nhiều khuyết điểm!” Đó cũng là câu hỏi có thể đặt ra với mỗi linh mục của Chúa: Tại sao Chúa đã gọi và chọn con? Cũng như tại sao Chúa đã chọn Phêrô, và các Tông Đồ, dù các Ngài cũng chỉ là những con người yếu đuối; như Phêrô đã chối Thày tới ba lần. Trong số 12 ông, lại có Giuđa bán Chúa! Tại sao Chúa chọn Phaolô, một kẻ điên cuồng chống Chúa và Giáo Hội Chúa lúc ban đầu (Công Vụ 8: 3). Tại sao Chúa đã chọn Augustinô, dù rất thông thái, nhưng lúc ban đầu là một người vô thần? Tại sao Chúa chọn Charles de Foucauld, một sĩ quan đầy tương lai trong quân đội Pháp đã ‘bỏ đạo’ và đang sống cuộc đời thác loạn? Mới đây lại chọn một đảng viên cộng sản Trung Quốc để trở nên một ‘Linh Mục chui’ với cái tên “Cha Bao”. Tại sao Chúa gọi và chọn lên chức Linh mục những người thật thông thái: những nhà bác học, khoa học, triết gia nổi danh như Gregor Mendel (1822-1844), Pierre Teihard de Chardin (1881-1955), George Lemaitre (1894-1966), Stanley L. Jaki (1924-2009), Michal Heller (1936) v.v… Trong khi cũng gọi và chọn Gioan Vianney, trí khôn rất bình thường.

Trong ‘Năm Linh Mục’, Đức Gíao Hoàng muốn chúng ta đặc biệt suy gẫm cuộc đời của cha Gioan Baotixita Maria Vianney (1786-1859) thường được gọi là Cha Sở xứ Ars (Cure d’Ars), là một Linh Mục, một Cha Xứ gương mẫu và là Bổn Mạng các Linh Mục, đặc biệt các Cha Xứ.

Cha Vianney sinh ngày 8/5/1786, trong một gia đình đạo hạnh, tại Dardilly (gần Lyon, Pháp) và lớn lên đúng vào thời kỳ Giáo Hội tại Pháp gặp những bách hại khủng khiếp do cuộc Cách Mạng Pháp (1789-1799). Cuộc Cách Mạng này khởi đầu vào lúc Vianney mới được 5 tuổi. Trong thời kỳ này, nhiều giáo sĩ và tu sĩ bị bắt đi tù đày hoặc giết chết, nhiều dòng tu, xứ đạo bị đóng cửa. Nhà thờ xứ đạo quê hương của Vianney cũng bị đóng cửa; nhưng cả gia đình vẫn kiên tâm giữ vững Đức Tin và sống đời sống đạo đức, bác ái. Khi lớn lên, Vianney có dịp gặp gỡ nhiều linh mục còn sống sót sau cuộc bách hại, và sống Đức Tin thật mạnh mẽ. Các ngài cùng chung tay xây dựng lại Giáo Hội Pháp từ những đổ nát sau cuộc Cách Mạng. Noi gương sáng của các linh mục này, Vianney cảm thấy muốn đi tu làm Linh Mục, và xin vào Chủng viện. Vì tuổi đã hơi lớn, và không được học hành nhiều, trí khôn lại hơi kém, nên Vianney đã gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian tu học. Nhưng bù vào, Vianney có một Đức Tin mạnh mẽ và lòng đạo đức sâu xa. Cuối cùng nhờ ơn Chúa, Vianney cũng vượt qua được mọi trở ngại, khó khăn và chịu chức Linh Mục vào ngày 13/8/1815 tại Grenobe. Sau một thời gian lam phó xứ, Cha Vianney được bổ nhiệm về làm Cha sở xứ Ars (gần Lyon) từ năm 1918. Lúc đó, xứ Ars là một xứ đạo miền quê, nghèo nàn, và tinh thần đạo đức bị sút giảm vì những năm Cách Mạng Pháp. Lúc đầu, Cha Vianney cũng gặp rất nhiều khó khăn trong việc mục vụ cho giáo dân ở đây. Cha cố gắng dành nhiều thời giờ đi thăm viếng các gia đình, giúp đỡ các cô nhi, qủa phụ, các nguời nghèo khó trong xứ đạo. Cha cũng dành nhiều thời giờ dạy giáo lý cho trẻ em. Những thời giờ còn lại, Cha vào Nhà Thờ để cầu nguyện với Chúa Giêsu Thánh Thể. Cha cũng siêng năng cầu nguyện với Đức Mẹ Maria qua tràng Chuỗi Mân Côi mà Cha luôn mang theo trong người hoặc trên tay. Nhờ kiên trì hãm mình , cầu nguyện và sống khiêm nhường, Cha Vianney đã biến xứ đạo này trở nên một xứ đạo nhiệt thành, sốt sáng.

Cha Vianney đã sống gần suốt cuộc đời Linh Mục ở đây và lòng đạo đức, tinh thần hy sinh cũng như sự tận tụy phục vụ giáo dân, đã làm cho danh tiếng của Cha lan tràn đến các xứ đạo lân cận, rồi đến khắp nơi trên nước Pháp và các quốc gia khác. Nhiều người từ các nơi, kể cả nhiều vị giảng thuyết nổi tiếng tại Pháp lúc đó, như Cha Henry Lacordaire, cũng đến nghe Cha Vianney giảng. Những bài giảng của Cha tuy đơn sơ, dễ hiểu, nhưng rất đạo đức, phát xuất từ đời sống nội tâm sâu xa. Cha Vianney đã sống những lời Cha giảng cho dân chúng, nên đánh động rất nhiều tâm hồn. Nhiều người đã tìm lại được Đức Tin khi nghe Cha giảng, và đến bàn việc thiêng liêng cũng như xưng tội với Cha.

Vào khoảng 10 năm cuối đời của Cha Vianney, hàng năm có tới 20 ngàn người (trong đó có cả những Giám mục, Linh mục, Tu sĩ nam, nữ) đến nghe Cha giảng, xưng tội, bàn việc thiêng liêng. Mỗi ngày Cha phải ngồi Tòa Giải Tội ít nhất là 12 tiếng đồng hồ, có khi 16 tiếng. Chỉ vào đêm khuya, Cha mới trở vào nhà xứ và ăn mấy củ khoai luộc sẵn, sau đó nghỉ đêm ít giờ, để rồi lại thức dậy từ sáng sớm đọc sách nguyện, suy gẫm, dâng Thánh Lễ và bắt đầu một ngày mới đầy bận rộn. Có những lần Đức Giám Mục muốn thuyên chuyển Cha, nhưng giáo dân quyết tâm xin giữ Cha lại. Chính Cha Vianney cũng đã có nhiều lần muốn rời bỏ giáo xứ để sống đời chiêm niệm; nhưng theo ý Chúa, Cha đã tiếp tục phục vụ tại đây cho đến khi được Chúa gọi về để thưởng công trên Nước Chúa vào ngày 4/8/1859. Đức Giáo Hoàng Pio XI đã suy tôn Ngài lên bậc Hiển Thánh vào năm 1925. Ngài thật là một mẫu gương Linh mục tuyệt vời, đúng là Thánh Bổn Mạng của các Linh Mục, nhất là các Linh Mục phục vụ tại các giáo xứ.

Trong năm thánh hóa các Linh Mục này, chúng ta hãy dâng nhiều hy sinh, hãm mình cầu xin Chúa Giêsu Linh Mục Thượng Phẩm đời đời, ban ơn thánh hóa, gìn giữ và nâng đỡ các Linh Mục của Chúa đang hoạt động khắp nơi trên thế giới; đặc biệt các Linh Mục đang gặp nhiều khó khăn, thử thách, đang bị tù đày tại những nơi mà Giáo Hội đang bị bách hại cách này hay cách khác.

Có nhiều “Kinh Cầu cho các Linh Mục”, và nhiều nhà thờ thường đọc vào trước giờ Thánh Lễ để xin ơn thánh hóa cho các Linh Mục. Nhiều gia đình cũng đọc vào giờ Kinh Tối. Chúng tôi xin gửi đến qúy vị một kinh sau đây:

KINH CẦU CHO CÁC LINH MỤC
Lạy Chúa Giêsu, là LINH MỤC ĐỜI ĐỜI,
Chúa đã dùng tay các vị Giám mục mà thông ban bảy ơn Thánh Thần Chúa để thánh hóa các Linh mục.
Chúa là mẫu gương độc nhất và sáng tỏ cho hàng Linh mục noi theo.
Xin in sâu người mẫu vào tâm hồn các Linh mục để các Linh mục được trở nên những vị Kitô-thứ-hai của Chúa.
Xin Chúa cho các Linh mục sống theo ánh sáng Đức Tin chỉ dẫn và bất cứ trong cảnh ngộ nào hằng tin vào quyền năng vô cùng của Chúa, biết sống nội tâm, siêng năng cầu nguyện, lấy Mình Máu Thánh Chúa và Phúc Âm làm của ăn nuôi sống hằng ngày.
Xin cho các Linh mục thật lòng mến Chúa, và yêu thương mọi người, hy sinh đời sống mình vì kẻ khác, luôn luôn nêu gương mẫu khiêm nhường, khó nghèo, hiền hòa và trong sạch, để mọi người nhìn thấy Chúa Giêsu trong các Linh mục.
Xin cho các Linh mục trìu mến và vâng phục Cha chung là Đức Giáo Hoàng, thành tâm cộng tác với Đức Giám mục là đấng kế vị các Thánh Tông Đồ, luôn luôn đoàn kết với các anh em Linh mục trong việc mở mang nước Chúa.
Xin cho các Linh mục là những chủ chăn nhiệt thành săn sóc đoàn chiên Chúa tìm kiếm những chiên thất lạc chăm nom những chiên bệnh hoạn chữa lành những chiên đau yếu nuôi dưỡng chiên trong đồng cỏ xanh tươi của Chúa.
Xin cho các Linh mục là cha chung đáng quý mến của mọi gia đình Cộng đoàn hướng dẫn giáo dân trong tình phụ tử lấy Phụng vụ và Lời Chúa làm của ăn nuôi dưỡng Cộng đoàn, để mọi người trong Cộng đoàn hăng say cộng tác xây dựng nước Chúa.
Lạy MẸ MARIA,
là Mẹ hàng giáo sĩ xin cho hàng giáo sĩ hằng yêu mến Mẹ.
Xin Mẹ nâng đỡ Linh mục khi có ai yếu đuối ủi an khi sầu khổ khuyến khích khi thua buồn, để các ngài luôn luôn phấn khởi làm tròn nghĩa vụ Linh mục.
Amen.

17.4.09

THÔNG ĐIỆP LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA





















THÔNG ĐIỆP LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA
THEO CUỐN TÌNH THƯƠNG NƠI LINH HỒN TÔI
Thánh Faustina Kowalska
(trích dịch một phần của thông điệp)

Năm 1931, Chúa hiện ra với thánh nữ Faustina trong một thị kiến. Thánh nữ nhìn thấy Chúa Giêsu mặc một chiếc áo trắng với cánh tay phải giơ lên như đang chúc lành. Tay trái của Ngài đụng vào áo nơi trái tim, nơi mà hai ánh sáng chiếu tỏa ra, một tia màu đó và một tia màu trắng lạt. Thánh nữ nhìn không chớp mắt thẳng vào Chúa trong thinh lặng, linh hồn thánh nữ tràn ngập lòng kính sợ, nhưng cũng tràn đầy niềm vui khôn tả. Chúa Giêsu nói với thánh nữ:

Hãy vẽ một bức ảnh theo mẫu thức mà con nhìn thấy, kèm theo giòng chữ: Lạy Chúa Giêsu, con tin tưởng nơi Ngài. Cha mong ước bức ảnh này được tôn kính, trước hết, tại nguyện đường của con, sau đó, ở khắp nơi trên thế giới. (số 47)

Cha hứa là, linh hồn nào tôn kính bức ảnh này sẽ không bị hư mất. Cha cũng hứa cho linh hồn thắng được các kẻ thù ngay khi còn sống trên thế gian, nhất là trong giờ lâm tử. Chính Cha sẽ bảo vệ linh hồn ấy như là bảo vệ vinh quang của riêng Cha. (số 48)

Khi con nói điều này với cha giải tội của con, con nhận được câu trả lời thế này: "Điều ấy có ý chỉ về linh hồn của con". Người bảo con là: "Đúng đấy, hãy vẽ hình ảnh Thiên Chúa trong linh hồn của con". Ra khỏi toà giải tội, con lại nghe thấy những lời như sau:

Hình ảnh của Cha đã sẵn có nơi linh hồn con rồi. Cha mong có một Lễ Kính Lòng Thương Xót. Cha muốn bức ảnh mà con vẽ bằng cây cọ này phải được long trọng làm phép vào ngày Chúa Nhật Thứ Nhất sau Lễ Phục Sinh. Ngày Chúa Nhật này phải là ngày Lẽ Kính Lòng Thương Xót. Cha ước mong các linh mục loan truyền tình thương vĩ đại này của Cha cho các linh hồn những tội nhân. Để tội nhân đừng sợ tiến đến với Cha. Những ngọn lửa tình thương đang nung nấu Cha - bừng bừng muốn toé ra, Cha muốn tuôn đổ những ngọn lửa tình thương này xuống trên các linh hồn ấy. (số 49)

Cha muốn bức ảnh này (như Chúa muốn đã được đề cập đến ở số 47) phải được trưng bày nơi công cộng vào ngày Chúa Nhật thứ nhất sau Lễ Phục Sinh. Chúa Nhật này là Lễ Kính Lòng Thương Xót. Nhờ Ngôi Lời Nhập Thể, Cha tỏ vực sâu vô đáy của tình thương Cha ra. (số 88)

Hỡi con gái của Cha, hãy nhìn vào vực thẳm của tình thương Cha để chúc tụng và tôn vinh tình thương này của Cha. Con hãy làm như thế này: Hãy tụ họp tất cả các tội nhân từ khắp nơi trên thế giới lại, dìm họ vào vực thẳm của tình thương Cha. Con gái của Cha ơi, Cha muốn ban mình Cha cho các linh hồn, Cha khao khát các linh hồn. Vào ngày lễ của Cha, Lễ Kính Lòng Thương Xót, con sẽ đi khắp thế gian mà mang các linh hồn mệt nhược về suối nguồn của tình thương Cha. Cha sẽ chữa lành và tăng sức cho họ. (số 206)

Có một lần, cha giải tội của con bảo con hỏi Chúa Giêsu về ý nghĩa của hai tia sáng trong bức ảnh, con trả lời với ngài là: "Dạ vâng, con sẽ hỏi Chúa". Đang khi cầu nguyện, con đã nghe thấy trong con những lời này:

Hai tia sáng biểu hiệu cho Máu và Nước. Tia sáng nhạt là biểu hiệu của Nước, để làm cho các linh hồn nên công chính. Tia sáng đỏ là biểu hiệu của Máu, để ban sự sống cho các linh hồn... Hai tia sáng này phát xuất từ những thẳm sâu nhất của tình thương êm ái Cha, lúc mà Trái Tim đau thương của Cha bị lưỡi đòng chọc mở ra trên cây Thánh Giá.

Những tia sáng này bao che các linh hồn cho khỏi cơn thịnh nộ của Cha Cha. Phúc cho kẻ nào được ẩn náu trong những tia sáng này, vì bàn tay công thẳng của Thiên Chúa sẽ không giáng xuống trên họ. Cha mong ước ngày Chúa Nhật thứ nhất sau Lễ Phục Sinh là ngày Lễ Kính Lòng Thương Xót. (số 299)

Ngày 5-11-1934. Buổi sáng hôm ấy, theo phận sự, con mở cổng để người đưa các món ăa nướng ra, sau đó, con ghé vào nhà nguyện nhỏ viếng Chúa Giêsu một chút, để lập lại những ý nguyện trong ngày. "Lạy Chúa Giêsu, hôm nay con xin dâng lên Chúa tất cả mọi chịu khó, hãm mình và cầu nguyện của con, theo ý chỉ của Đức Thánh Cha, để ngài có thể chuẩn nhận Lễ Kính Tình Thương. Thế nhưng, Chúa Giêsu ơi, con còn một điều nữa xin thưa cùng Chúa là: con rất lấy làm lạ, vì Chúa cứ ép con phải nói về Lễ Kính Tình Thương này, trong khi các Ngài nói với con là đã có một lễ như thế rồi, nên con phải nói đến lễ này làm gì nữa?"

24.11.08

SỐNG LỜI CHÚA QUA NĂM PHỤNG VỤ CỦA GIÁO HỘI


(Linh Mục Anphong Trần Đức Phương)

Danh từ 'Phụng Vụ' (Tiếng Anh gọi là 'Liturgy', từ tiếng Hy Lạp là 'Leitourgia' 'việc thờ phượng chung') để chỉ việc thờ phượng Thiên Chúa có tính cách phổ quát chung cho toàn thể Giáo Hội: Việc dâng Thánh lễ và đọc các giờ Kinh Phụng vụ hàng ngày của các Linh mục là việc Phụng Vụ có tính cách phổ quát cho toàn thể Giáo hội. Thí dụ, một linh mục, khi bị tù đày trong trại lao động, dù kín đáo dâng Thánh Lễ riêng một mình, hoặc đọc Sách Nguyện riêng một mình, vẫn có tính cách phụng vụ phổ quát, đại diện toàn thể Giáo Hội Chúa.

Năm Phụng Vụ của Giáo Hội là chu kỳ phụng vụ thờ phượng Chúa và sống Lời Chúa trong suốt một năm.

Năm Phụng Vụ của Giáo Hội bắt đầu từ Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng (Thường vào đầu tháng 12; đôi khi là cuối tháng 11) để chuẩn bị mừng Đại lễ Giáng Sinh. Mùa Vọng trước đây thường được gọi là mùa Áp (Tiếng Anh là Advent, từ tiếng Latinh Adventus); bây giờ gọi là Mùa Vọng, mùa mong chờ Chúa đến. Tiếp theo Mùa Vọng là Mùa Giáng Sinh. Mùa Giáng Sinh chấm dứt với Lễ Chúa Giêsu chịu phép rửa. Sau Mùa Giáng Sinh, tiếp vào Mùa Quanh Năm I (Mùa Quanh Năm cũng gọi là Mùa Thường Niên). Mùa Quanh Năm I bắt đầu từ Lễ Chúa Giêsu chịu Phép Rửa, và chấm dứt với tuần lễ V (hoặc VII) thường niên; sau đó bắt đầu vào Mùa Chay để chuẩn bị mừng Đại Lễ Phục Sinh. Mùa chay bắt đầu từ Thứ Tư Lễ tro; tiếp theo là Tam Nhật Vượt Qua (Thứ Năm, Thứ Sáu, Thứ Bảy Tuần Thánh), rồi Chúa Nhật Phục Sinh. Mùa Phục Sinh kéo dài cho đến Chúa Nhật Lễ Hiện Xuống. Sau đó bắt đầu Mùa Quanh Năm II. Mùa Quanh Năm II kéo dài cho đến hết tuần lễ 34 quanh năm và chấm dứt một năm phụng vụ của Giáo hội, để bước vào một Năm Mới của phụng vụ với Chúa nhật I Mùa vọng.

Qua một năm Phụng Vụ của Giáo Hội như vậy, chúng ta đã có những dịp để tôn thờ và sống Mầu Nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi: Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Chúa Thánh Thần. Chúng ta cũng có dịp sống lại những biến cố trong suốt cuộc đời trần gian của Chúa Giêsu Kitô, từ việc Ngài giáng sinh trong hang đá Bê lem, lớn lên, ra đi rao giảng, chịu khổ nạn và chịu chết trên Thập Giá, sống lại và lên Trời vinh hiển để mở đường cứu rỗi cho chúng ta. Trong suốt năm Phụng Vụ, Giáo Hội cũng có những ngày lễ đặc biệt kính Đức Mẹ Maria, các Thiên Thần, và các Thánh, là những vị đã được thưởng công trên Nước Chúa, và hằng thương yêu phù trợ, và chuyển cầu cho chúng ta. Lịch Phụng Vụ Giáo Hội cũng hằng nhớ đến các linh hồn nơi luyện tội; đặc biệt vào tháng 11 (tháng cuối cùng của niên lịch Phụng Vụ) và Lễ cầu cho các linh hồn ngày 2 tháng 11 hằng năm.

Khi chúng ta đi dâng Lễ Ngày Chúa nhật, hay ngày thường, chúng ta được nuôi dưỡng tâm hồn bằng lời Chúa (trước khi được nuôi dưỡng bằng Mình và Máu Thánh Chúa qua việc Rước Lễ). Trong ngày Chúa Nhật (và Lễ Trọng) có bài đọc I , bài đọc II và Bài Phúc Âm (Tin Mừng). Ngày thường thì có Bài Đọc I và Bài Phúc Âm.

Để khi đi dâng Thánh Lễ, qua việc nghe các Bài Đọc, chúng ta có thể được nghe tổng quát toàn bộ Lời Chúa trong Kinh Thánh Cựu ước và Tân ước, Giáo Hội chia các Bài Đọc theo chu kỳ năm A, Năm B và Năm C; còn ngày thường thì chia ra năm chẵn (2008…) và năm lẻ (2009…). Trong năm Phụng Vụ vừa qua (2008), chúng ta theo chu kỳ Năm A. Bắt đầu từ Chúa Nhật I Mùa Vọng này (30-11-2008), chúng ta bước sang năm Phụng Vụ mới, và bắt đầu theo chu kỳ năm B.

Để có thể được nuôi dưỡng bằng Lời Chúa và sống Lời Chúa trong việc thánh hóa bản thân, khi đi dâng lễ chúng ta cần biết 'lắng nghe và suy ngẫm Lời Chúa.' Vì thế những người đọc Lời Chúa phải được huấn luyện để có thể đọc lời Chúa với cả tâm hồn của mình (thường gọi là đọc có hồn), đọc thong thả và rõ ràng để cộng đoàn có thể dễ dàng lắng nghe và cảm nghiệm được Lời Chúa đi vào tâm hồn của mình. Riêng Bài Phúc Âm luôn phải do Thầy Phó Tế đọc (nếu có mặt) hoặc chính Linh mục chủ tế, hoặc đồng tế đọc.

Nhiều Bài đọc và bài Phúc âm chúng ta đã nghe thật nhiều lần, và rất quen thuộc, vừa đọc mấy dòng đầu chúng ta đã biết ngay bài đó nói về chuyện gì; tuy nhiên, vẫn phải đọc thật thong thả với cả tâm hồn của mình để có thể truyền đạt được Lời Chúa vào chính tâm hồn mình và mọi người trong Nhà Thờ. Tất nhiên bài giảng (Bài chia sẻ) tiếp theo sẽ giúp chúng ta dể hiểu và dễ lĩnh nhận Lời Chúa hơn . Tuy nhiên lúc chúng ta đọc hoặc lắng nghe Lời Chúa chính là lúc rất quan trọng, vì lúc đó chính Lời Chúa tác động thẳng vào tâm trí chúng ta và ban ơn thánh hóa. Vì thế đọc vội vàng, đọc cho xong (nhất là khi thấy bài hơi dài, hoặc quá quen thuộc) đều làm sai ý hướng của phụng vụ Lời Chúa . Nói chung, Thánh Lễ đã được phân chia ra từng phần rất quân bình, và phải được cử hành một cách thong thả và trang trọng, kể ngay từ việc làm "Dấu Thánh Giá" để bắt đầu Thánh Lễ. Những điều này chúng tôi hy vọng sẽ có dịp trình bày đầy đủ hơn trong bài 'Cùng Dâng Thánh Lễ'. Chúng tôi cũng hy vọng sẽ có dịp viết và gửi đến quý vị những bài chia sẻ Lời Chúa hàng tuần về mỗi Chúa Nhật.

Xin hiệp lời cầu nguyện chung để chúng ta cùng chuẩn bị tâm hồn xứng đáng bước vào Năm Mới của Phụng vụ Giáo hội với Chúa Nhật Thứ Nhất Mùa Vọng năm nay.

---------------------------------------


FATIMA VÀ NHỮNG LỜI CẢNH BÁO RÙNG RỢN

Những ngày vừa qua, hẳn nhiều người đã nhận được một file powerpoint bằng tiếng Pháp cùng với bản dịch tiếng Việt, dưới tựa đề là “Lời Tiên Báo thứ ba - Bí mật Fatima”. Những lời trong văn bản gợi lên hình ảnh rất rùng rợn của một đại họa sắp xảy ra, tương tự như một ngày tận thế.

Ngay sau đó, nhiều người báo cho biết rằng đấy là một ‘lời tiên báo giả mạo’. Cũng lưu ý rằng bản tiếng Pháp được thực hiện cách đây ba năm và bản dịch thì mới xuất hiện năm nay (từ 1917 đến nay là 88 năm trong bản tiếng Pháp so với 91 năm trong bản dịch tiếng Việt).

Trước hết, không hề có ‘Lời tiên báo thứ ba’, mà chỉ có phần thứ ba của ‘bí mật’ Fatima mà thôi. Kế đến, phần thứ 3 này đã được Đức Gioan Phaolô II cho phép công bố. Ngày 26-06-2000, Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đã phổ biến văn kiện “Message of Fatima” (1), ghi lại toàn bộ ‘phần 3’ của bí mật Fatima, cùng với những bình luận thần học của bộ trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, mà hiện nay là Đức Giáo Hoàng Bênêđitô XVI.

I - Bí Mật Fatima: Phần 3.

Sau đây là bản dịch nguyên văn phần thứ 3 của sứ điệp Fatima, do chính tay chị Lucia viết vào ngày 3-1-1944.

“J.M.J. (Giêsu Maria Giuse)

Phần thứ ba của bí mật được mặc khải vào ngày 13-07-1917, tại Cova de Iria - Fatima.

Con viết lại vì đức vâng phục đối với Chúa, lạy Chúa, là Đấng truyền lệnh cho con qua Đức Cha giáo phận Leira và qua Mẹ thánh của Chúa, cũng là Mẹ của con.

Sau hai phần con đã trình bày, thì ở bên trái của Đức Mẹ và cao hơn một chút, chúng con thấy có một vị Thiên Thần cầm một lưỡi gươm lửa nơi tay trái; gươm lấp lánh và toát ra những ngọn lửa như muốn đốt cháy thế giới; tuy nhiên, những ngọn lửa ấy đã tắt đi khi chạm đến hào quang quanh bàn tay phải của Đức Mẹ hướng xuống thế gian. Vị thiên thần, tay phải chỉ xuống trái đất, kêu lớn tiếng rằng: “Ăn năn! Ăn năn! Ăn năn!”. Rồi chúng con thấy trong một ánh sáng mênh mông là Thiên Chúa (giống như người ta nhìn thấy khi đi ngang qua một tấm gương) một vị giám mục mặc Áo Trắng (mà chúng con có linh cảm đó là Đức Thánh Cha). Nhiều Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ khác đang tiến lên một ngọn núi cheo leo, mà trên đỉnh có một cây Thập Giá lớn làm bằng những thân cây thô, giống như cây điên điển với lớp vỏ bọc ngoài; trước khi đến đấy, Đức Thánh Cha đã băng qua một thành phố lớn, mà một nửa điêu tàn và một nửa đang sụp đổ; bước chân ngài xiêu vẹo, vì đau đớn và u sầu, Ngài cầu nguyện cho các linh hồn của những thi hài Ngài gặp thấy trên đường đi; khi lên đến đỉnh núi, ngài quì dưới chân cây Thập Giá lớn, bấy giờ Ngài đã bị giết, do một nhóm lính bắn nhiều phát bằng một vũ khi nả đạn và tên; rồi lần lượt các vị Giám Mục, Linh Mục, Tu Sĩ nam nữ cùng với giáo dân thuộc nhiều giai cấp và thành phần xã hội khác nhau cũng chết. Dưới hai cánh Thập Giá có hai Thiên Thần, mỗi vị cầm trong tay mình một bình tưới bằng pha lê để hứng lấy máu của các vị Tử Đạo và hai vị dùng máu ấy tưới lên những linh hồn tiến gần đến Thiên Chúa.

Tuy - 3 - 1 - 1944”

Tiếp theo đây là một đoạn trích dẫn bài bình luận của Đức Hồng Y Ratzinger:

“Vậy thì một câu hỏi được đặt ra: Ý nghĩa của ‘Bí mật Fatima’ trong toàn bộ (cả 3 phần) là gì? Bí mật ấy nói gì với chúng ta? Trước tiên, tất cả chúng ta phải khẳng định như đức Hồng Y Sodano: “… những sự kiện mà ‘bí mật’ Fatima nhắc đến dường như đã thuộc về quá khứ”. Như thế, nếu xét theo các biến cố được mô tả, thì chúng đã thuộc về quá khứ rồi. Những ai chờ đợi các mặc khải cánh chung về ngày tận thế hoặc tiến trình tương lai của lịch sử buộc phải thất vọng thôi. Fatima không thoả mãn tính hiếu kỳ của chúng ta theo cách đó; cũng như đức tin Kitô giáo nói chung không thể giản lược thành một đối tượng của lòng tò mò mà thôi. Điều còn lại thì đã rõ ràng, khi ta bắt đầu suy tư về bản văn của ‘bí mật’ ấy: đó là lời kêu gọi cầu nguyện như một con đường ‘cứu rỗi các linh hồn’, và lời kêu gọi ăn năn hoán cải cũng nhằm mục đích đó.

Cuối cùng, tôi muốn nói đến một câu trong ‘bí mật’ đã trở thành nổi tiếng một cách chính đáng: “Trái tim Vô Nhiễm của Mẹ sẽ thắng”. Câu này có nghĩa là gì? Một trái tim mở ra đối với Thiên Chúa, được tinh luyện nhờ chiêm ngắm Chúa, trái tim ấy thì mạnh hơn bất cứ loại súng đạn và vũ khí nào. Tiếng Fiat của Đức Mẹ, tiếng nói xuất phát từ trái tim Mẹ, đã thay đổi dòng lịch sử nhân loại, vì tiếng ấy đã đem Đấng Cứu Độ đến cho nhân loại - bởi vì, nhờ tiếng ‘Xin Vâng’ ấy, Thiên Chúa trở nên người phàm trong thế giới này và ở lại với chúng ta cho đến mãi mãi.”

II. Tận thế vào năm 2012

Tài liệu ‘bí mật thứ ba’ kêu gọi chuẩn bị cho ngày ‘tận thế’ đó, và vì đấy là một lời phán của Đức Mẹ, nên không cần một lý chứng ‘khoa học’ nào. Cho đến nay, chưa thấy ai đưa ra luận cứ nào để biện minh cho những lời trên; tuy nhiên, ngay từ bây giờ tôi cũng muốn nêu trước những cái gọi là ‘bằng chứng khoa học’ mà mai này có người sẽ dựa vào mà bảo vệ cho cái ‘bí mật Fatima’ giả tạo đó, và làm cho tín hữu hoang mang.

Cách đây vài năm xuất hiện một nguồn tin ở phương tây - và một ngày gần đây hẳn sẽ rộ lên ở Việt Nam - cho rằng tận thế sẽ rơi đúng vào ngày 21-12-2012, lúc 11g11. Nếu vào google mà đánh “Apocalypse 2012” thì sẽ tìm thấy 67.100 bài, còn “fin du monde 2012” thì có 11.300 bài nói về đề tài này.

Chỉ cần click vào địa chỉ http://www.2012fin.com bạn sẽ thấy hiện lên chính xác số ngày, giờ, phút, giây còn lại cho đến ngày tận thế! Khi tôi viết bài này thì thời gian còn lại là 1486 ngày, 21 giờ, 08 phút, 31 giây; và khi bạn đọc bài này thì thời gian còn ít hơn nữa!

Trong các tài liệu trên, nhiều ‘nhà khoa học’ đã dựa vào các nguồn khác nhau để biện minh cho biến cố ‘tận thế’ hoặc một biến cố rùng rợn tương tự như thế.

1. Lịch Maya: Dân Maya - Trung Mỹ - có một bộ lịch được thực hiện cách đây gần 5000 năm. Lịch này tiên báo chính xác các nhật thực và nguyệt thực từ trước đến nay, đồng thời mô tả các chu kỳ vận chuyển của các hành tinh. Một trong các chu kỳ có thời gian là 5125 năm sẽ kết thúc vào ngày 21 tháng 12 năm 2012.

Các nhà thiên văn cũng xác nhận rằng ngày ấy là một ngày hí hữu - chỉ xảy ra một lần trong vòng 52.000 năm - mà các hành tinh đều thẳng hàng và có thế gây những tác động rất lớn trên địa cầu, thậm chí nam cực và bắc cực có thể di dời, tạo ra những hiện tượng thiên nhiên khả dĩ phá hủy toàn bộ sự sống hiện nay trên địa cầu.

2. Kinh Dịch: Từ 5000 năm qua, Kinh Dịch khởi sự để bói toán, dần dần trở thành một triết lý, rồi đến một khoa học có thể dự kiến những biến cố trên nhiều lãnh vực. Năm 1999, anh em Terrence and Dennis McKenna đã đưa các qui luật của Kinh Dịch vào vi tính và vẽ ra một biểu đồ về tiến trình lịch sử. Biểu đồ này xác định khá chính xác các biến cố lớn trong lịch sử quá khứ của nhân loại. Biểu đồ này cũng cho thấy rằng vào năm 2012 sẽ có một biến cố tồi tệ nhất chưa bao giờ xảy ra từ trước đến nay.

3. Web-bot: Web-bot (viết tắt của Web Robot) thoạt đầu là một chương trình dùng Robot để tính toán về chứng khoán. Các Robot thu thập hàng trăm ngàn số liệu và dữ kiện thuộc nhiều lãnh vực khác nhau, rồi tính toán và đưa ra những dự kiến về thị trường chứng khoán. Web-bot đã tỏ ra rất chính xác trong lãnh vực này. Từ đó, Web-bot mở rộng phạm vi dự đoán của mình bằng cách thu thập hằng tỉ thông tin khắp nơi và đề ra những dự kiến tương lai cho nhân loại. Các tính toán của Web-bot cũng cho thấy một tai họa khủng khiếp sẽ đến với nhân loại vào năm 1012.

Ngoài ra, người ta còn nói đến các lời tiên tri khác: của trinh nữ Sybille, ở Hy Lạp, cách đây hơn 4000 năm với sách Sybilian Oracles; của thánh Gioan, ở Palestine, vào thế kỷ thứ 1 với sách Khải Huyền; của thánh Malachy, ở Ireland, vào thế kỷ thứ 11 với những lời tiên báo về 112 vị giáo hoàng (mà vị cuối cùng là Đức Bênêđitô XVI); của Nostradamus, ở Pháp, vào thế kỷ 16 với nhiều lời đã được lịch sử kiểm chứng, vv…

Tất cả những thông tin mơ hồ ấy, với cách trình bày khéo léo, sẽ trở thành luận cứ để nhiều người dùng mà chứng minh ‘một cách khoa học’ cho lời ‘bí mật thứ ba’ giả mạo kia.

III. Tận thế đối với mỗi người.

Những dữ kiện trên đây nhằm cho thấy rằng ‘bí mật Fatima thứ ba’ chỉ là một thư spam nếu không phải là tài liệu tào lao. Thế nhưng rồi đây cũng có nhiều người tin tưởng. Không ít người bàn ra tán vào: ‘Ờ biết vậy, nhưng rủi tận thế thật thì sao?’. Tin thì không tin, mà sợ thì vẫn sợ. Vậy thì chúng ta hãy xác định với nhau một điều: Tận Thế sẽ xảy ra. Bất cứ điều gì có một khởi đầu thì sẽ có một chấm dứt. Và thế giới vật chất này không phải là một ngoại lệ. Hẳn là tận thế không xảy ra như lời tiên báo trên slide show ‘Bí mật thứ ba’, hoặc vào ngày 21-12-2012 như lịch Maya xác định, nhưng tận thế chắc chắn sẽ xảy ra. Nó có thể xảy ra một triệu năm nữa nhưng cũng có thể xảy ra ngày mai; vì Chúa phán: “Trời đất sẽ qua đi... về giờ và ngày đó thì không ai biết được, ngay cả các thần sứ trên trời hay cả Người Con (nghĩa là chính Ngôi Hai) cũng không biết; chỉ một mình Đức Chúa Cha biết thôi. (Mt 24, 35-36). Vậy thì không cần phải đoán mò. Điều chắc chắn là tận thế đối với mỗi người đã bắt đầu. Đến năm 2110, thì không một người nào hiện đang sống sẽ còn có mặt trong vũ trụ này: mọi người sẽ lần lượt ra đi, chỉ trước hay sau mà thôi. Đó là điều ta cần suy nghĩ. Khi một người đã bị kết án tử hình thì giờ hành quyết có xảy ra ngay hôm đó hay sau vài tháng, đối với người ấy, cũng thế thôi. Khi con người thực sự hiểu rằng mình không bất tử thì phải suy nghĩ để sống thế nào hầu đối diện với ngày tận cùng của cuộc đời mình. Và đó là lý do vì sao người Công Giáo sống Đức Tin. Nhưng Đức Tin Công Giáo không đặt nền tảng trên sự sợ hãi. Mọi sự đe dọa dưới bất cứ hình thức nào đều đi ngược với Đạo Tình Yêu. Phải mất 3.000 năm để cho Dân Chúa đi từ việc tôn thờ một Yavê thịnh nộ và thẳng tay trừng phạt đến một Thiên Chúa của Đức Kitô, Người Cha nhân từ và sẵn sàng tha thứ. Vậy thì những lời kêu gọi được gán cho Đức Mẹ trên kia đã vẽ lên một bức hí họa về Kitô giáo. Đã có quá nhiều người trên thế gian bôi nhọ Giáo Hội và Thiên Chúa rồi, không cần những người tự xem mình ‘sứ giả của Đức Mẹ’ góp phần nữa, để biến một Tôn Giáo của Yêu Thương, của xả kỷ, của hy sinh, của quên mình, thành một Tôn Giáo của mê tín, của ích kỷ, của sợ hãi, của ngây ngô. Phúc âm từng nhắc đến tận thế, và trước mắt ta nên hiểu đấy là tận thế của từng người. Vì vậy Giáo hội không ngừng kêu gọi ăn năn sám hối; nhưng sám hối để sống mầu nhiệm Tình Yêu, để biến cái thế giới còn bất công này thành một ngôi nhà của những người con cùng một Cha chung và biết đối xử với nhau trong tình huynh đệ, chứ không phải sám hối bằng cách bỏ tiền đi xin lễ, mua nến, mua bình đựng nước thánh với mục đích cho mình sống sót, hoặc ít ra là chuẩn bị một cái ghế hầu an vị ở thế giới bên kia, nếu ‘trời sập’ vào một ngày gần đây.

Xin đừng nhân danh lòng tôn sùng Đức Mẹ mà biến Mẹ thành một ngẫu tượng, biến Đạo Công Giáo thành một tập tục nhảm nhí, biến sứ điệp Tin Mừng thành một thông báo Tin Lo.

Chú thích:

(1) Tài liệu liên quan đến Sứ điệp Fatima của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin:

Tiếng Anh:

http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/
rc_con_cfaith_doc_20000626_message-fatima_en.html

Tiếng Pháp:

http://www.vatican.va/roman_curia/congregations/cfaith/documents/
rc_con_cfaith_doc_20000626_message-fatima_fr.html

Gs. Trần Duy Nhiên

21.11.08

Lời tiên báo thứ 3 – Bí mật Fatima


Xin hãy cố gắng đọc kỹ, dù bạn không muốn.



Điều chắc chắn là Giáo hội Công giáo lúc bấy giờ có hứa sẽ chỉ mạc khải bí mật thứ ba này sau khi những biến cố đã xảy ra (ít nhất là những biến cố đề cập sau đây).

1/ Sau Đức Piô VI, có 12 vị Giáo Hoàng hoàn tất được triều đại của mình.
Đức Gioan Phaolô II là vị thứ mười hai!

2/ Vị tiền nhiệm của ngài (vị thứ 11) có một triều đại rất ngắn: Đức Gioan Phaolô I đã băng hà sau một tháng được bầu lên chức Giáo Hoàng.

3/ Vị Giáo Hoàng thứ 12 có một triều đại dài: Đức Gioan Phaolô II đã trị vì 27 năm, từ 1978 -2005. Đó là một triều đại Giáo Hoàng dài thứ ba trong lịch sử.

4/ Vị kế tiếp Đức Gioan Phaolô II, theo lời tiên báo, sẽ gây một cuộc cách mạng trong chính Giáo hội Công giáo (???)

Giáo hội đã cho phép mạc khải cho tín hữu một phần bí mật Fatima. Đức Maria Mẹ Chúa Giêsu đã hiện ra với 3 trẻ nhỏ năm 1917 và cuộc hiện ra này đã được xác định bởi những biểu hiện phi thường mà hàng chục ngàn người đã chứng kiến. Một trong 3 trẻ còn sống đến những ngày gần đây tên là Lucia (soeur Lucie), nữ tu thuộc Dòng Kín ở Âu Châu. Lúc đầu, chị Lucia đã loan báo thông điệp này cho Đức Piô XII. Khi đọc xong, Đức Thánh Cha đã run và giữ lại bí mật, không phổ biến. Đến Đức Gioan XXIII cũng đã đọc và không phổ biến. Các Ngài đã làm như thế vì các Ngài biết rằng nếu phổ biến bí mật thì sẽ gây hoảng loạn, tuyệt vọng trên toàn thế giới.
Đức Mẹ đã nói với chị Lucia: “Con xem, Mẹ đã chỉ cho thế giới biết những gì sẽ xảy ra từ năm 1950 đến 2001, nhưng người ta vẫn không quyết tâm thực thi Mười điều răn mà Cha chúng ta đã ban. Satan dẫn dắt thế giới, gieo rắc hận thù và bất hoà khắp nơi, người ta đã làm nên những vũ khí giết người và trong vòng vài phút có thể huỷ diệt thế giới, một nửa nhân loại sẽ bị huỷ diệt cách khủng khiếp, chiến tranh sẽ bắt đầu. Sẽ có những chống đối giữa các dòng tu với Rôma. Thiên Chúa cho tất cả các hiện tượng tự nhiên như khói, mưa đá, băng giá, nước, lửa, lụt lội, động đất, thời tiết khắc nghiệt, những thiên tai khủng khiếp, những mùa đông cực lạnh dần dần kết thúc địa cầu; những hiện tượng này sẽ xảy đến chung quanh năm 2000. Những người nào không muốn tin thì đây là cơ hội để tin.
Mẹ Chí Thánh của nhân loại đang nói với họ đây.
Hãy thực thi bác ái với người anh em đang cần giúp đỡ. Những kẻ không yêu thương nhau như chính Con Mẹ đã yêu thương chúng, một số kẻ này có thể sống sót, nhưng chúng lại muốn chết, hàng triệu những người này sẽ mất mạng trong vòng vài giây. Loại hình phạt trước mắt chúng ta không thể tưởng tượng được, và chúng sẽ thấy, không ngờ. Chúa chúng ta sẽ phạt một cách khắt khe những kẻ không tin Người, những kẻ chối bỏ Người, những kẻ không dành thời giờ cho Người. Mẹ kêu gọi tất cả những ai đến cùng Con Mẹ ; Thiên Chúa là Đấng cứu giúp thế giới, nhưng tất cả những gì không làm chứng cho lòng trung thành và ngay thẳng sẽ bị huỷ diệt cách khủng khiếp.

Cha Augustin sống tại Fatima, đã được Đức Phaolô VI cho phép đến thăm chị Lucia, lúc đó đã là nữ tu dòng Kín, không được ra ngoài và tiếp khách. Cha Augustin nói là chị Lucia đã tiếp cha với một trái tim tan nát, chị nói: “Cha ơi, Đức Mẹ rất buồn vì hầu như không ai lưu tâm đến lời tiên báo của Mẹ vào năm 1917; những người tốt phải đi vào con đường hẹp, những người xấu sẽ đi vào con đường rộng dẫn đến diệt vong; xin Cha tin con, sự trừng phạt sẽ sớm đến, có nhiều linh hồn sẽ hư mất và nhiều quốc gia sẽ biến khỏi mặt đất. Nhưng dầu vậy nếu loài người biết suy nghĩ và cầu nguyện để trở lại làm việc lành thì thế giới có thể được cứu vãn. Còn ngược lại họ cứ ở trong tình trạng bệnh tật thì thế giới sẽ hư mất vĩnh viễn.”

Đã đến lúc phải truyền đạt thông điệp của Đức Mẹ cho mọi người quen biết, cho bạn hữu, cho bạn của họ và cho cả thế giới biết. Hãy bắt đầu cầu nguyện, nâng tâm hồn lên, hãy ăn năn sám hối, hy sinh hãm mình. Chúng ta đang đến rất gần thời gian cuối cùng và tai hoạ cũng đang đi tới. Chính vì thế, có rất nhiều kẻ đang ở xa sẽ trở về trong vòng tay của Giáo Hội Chúa Kitô. Những nước như Anh, Nga, Trung Quốc, v.v., tất cả những người chân tu, người Tin lành, đạo sĩ, người Hồi giáo, Phật giáo, Do Thái giáo, sẽ trở lại và tin vào Thiên Chúa, trong Đức Giêsu Kitô và trong Mẹ Thánh của Ngài.
Nhưng chúng ta sẽ phải chờ đợi điều gì? Ở khắp nơi người ta đang nói đến hoà bình và yên ổn, nhưng hình phạt sẽ đến.

MỘT NHÂN VẬT RẤT CAO CẤP SẼ BỊ ÁM SÁT VÀ ĐIỀU ĐÓ SẼ GÂY RA CHIẾN TRANH .
MỘT ĐẠO BINH HÙNG MẠNH SẼ ĐI NGANG KHẮP ÂU CHÂU VÀ CHIẾN TRANH HẠT NHÂN SẼ BẮT ĐẦU.
Trận chiến tranh này sẽ huỷ diệt tất cả, bóng tối sẽ bao trùm trái đất trong vòng 72 tiếng đồng hồ (3 ngày). Gần 1/3 nhân loại còn sống sót sau 72 giờ đen tối và kinh hoàng này, và những ai bắt đầu sống trong giai đoạn mới sẽ là người tốt. Vào một đêm rất lạnh, 10 phút trước nửa đêm, MỘT TRẬN ĐỘNG ĐẤT LỚN sẽ làm rung chuyển trái đất trong vòng 8 tiếng đồng hồ. Đó là dấu hiệu thứ ba của Thiên Chúa, Đấng cai quản trái đất.
Những người tốt lành, hững kẻ loan báo thông điệp, lời tiên tri của Đức Trinh nữ Maria ở Fatima, KHÔNG ĐƯỢC RUN, KHÔNG ĐƯỢC SỢ HÃI, VÀ PHẢI LÀM GÌ ? Hãy quỳ xuống và xin lỗi Chúa. Đừng ra khỏi nhà và không để ai lạ vào nhà, bởi vì chỉ những người tốt lành mới không bị sự dữ thống trị và sẽ được sống sót sau cơn tai hoạ này. Để cho các con có thể chuẩn bị và còn sống sót như những người con của Mẹ, Mẹ sẽ cho các con những dấu hiệu sau đây:
ĐÊM ĐÓ SẼ LÀ ĐÊM CỰC KỲ LẠNH, CÓ NHỮNG CƠN GIÓ RẤT MẠNH THỔI ĐẾN; SẼ CÓ NHIỀU LO ÂU VÀ TRONG CHỐC LÁT TRẬN ĐỘNG ĐẤT LỚN BẮT ĐẦU, TOÀN TRÁI ĐẤT RUNG CHUYỂN.

Trong nhà con, hãy đóng hết các cửa ra vào và cửa sổ, không nói chuyện với bất cứ người nào chưa vào trong nhà. Không được nhìn ra ngoài, đừng tò mò, bởi vì đó là cơn giận của Đức Chúa.

Hãy đốt những cây nến đã làm phép, bởi vì trong ba ngày đó không có ánh sáng nào khác.

Sự rung chuyển của trái đất mạnh đến nỗi trục của trái đất sẽ di chuyển từ 20-23º, sau đó sẽ trở về vị trí cũ.

Bấy giờ sự tối tăm hoàn toàn bao trùm cả trái đất. Tất cả thần dữ sẽ được thả tự do, chúng gây nhiều điều dữ cho các linh hồn không muốn nghe thông điệp này

Các linh hồn Kitô giáo được chúc phúc nhớ thắp đèn cầy đã được làm phép, hãy chuẩn bị một bàn thờ có Thánh giá để liên lạc với Thiên Chúa và Con của Người, và để van nài lòng thương xót vô biên của Người. Tất cả đều tối đen.

Bấy giờ, một cây Thánh Giá huyền nhiệm sẽ xuất hiện trên nền trời nhắc lại giá châu báu mà Con Thiên Chúa đã trả vì yêu thương và cứu rỗi chúng ta.
Trong nhà con, vật duy nhất có thể đem ánh sáng là những cây nến đã được làm phép, mà một khi đã được thắp lên rồi thì không gì có thể dập tắt cho tới khi ba ngày tối tăm chấm dứt. Tất cả phải có NƯỚC THÁNH trong nhà để rảy lên các cửa sổ và cửa đi. Chúa sẽ che chở sở hữu của những kẻ Ngài đã chọn.

Hãy quỳ xuống trước Thánh Giá đầy quyền uy của Đức Kitô mà cầu nguyện sốt sắng và hãy nói :
“Lạy Chúa, xin tha thứ tội lỗi chúng con, xin cứu chúng con khỏi lửa hoả ngục. Xin dẫn đến bên Chúa tất cả các linh hồn, nhất là những linh hồn nào cần đến lòng thương xót Chúa hơn.
Ôi Mẹ Maria dịu hiền, xin cầu cho chúng con, chúng con yêu Mẹ, xin cứu thế giới chúng con.”
Những người công chính không được run sợ về bất cứ điều gì vào Ngày của Thiên Chúa.
Trong khi thời gian còn cho phép, người nào làm thinh sẽ chịu trách nhiệm về nhiều linh hồn bị hư mất do thiếu thông tin. Khi trận động đất ngừng, những người không tin vào Thiên Chúa sẽ chết cách khủng khiếp. Gió sẽ mang hơi độc gieo rắc khắp nơi, không cho mặt trời lộ diện. Có thể chúng con sẽ sống sót sau cuộc đại hoạ này. Đừng quên rằng cơn giận dữ của Thiên Chúa là Thánh, và khi đã bắt đầu, các con không được nhìn ra ngoài vì bất cứ lý do nào, vì Thiên Chúa không muốn cho con cái Người thấy khi Người trừng trị những kẻ tội lỗi cố chấp.
Các con phải hiểu rằng Thiên Chúa sẽ cho phép tất cả điều này xảy ra. Đức Thánh Cha và các Giám mục chờ một thông điệp khác nói về sự thống hối và cầu nguyện.
Hãy luôn nhớ rằng Lời của Thiên Chúa không phải là đe dọa mà là Tin Mừng”.

Xin vui lòng chép lại tin này, và gởi cho tất cả những người bạn quen biết để mọi người có cơ hội thống hối và được sống sót. Chúng ta không biết những người nhận được thông điệp này sẽ tin hay không, nhưng hãy nghĩ rằng nếu Thiên Chúa cho phép thì nó sẽ xảy ra, bởi vì Người muốn điều đó, và dù người đó theo đạo nào. Nếu bạn không tin vào thông điệp này, hãy gởi cho những người khác, điều đó không làm bạn tốn kém chi, và như thế những kẻ tin sẽ có cơ hội để tự quyết định. Bạn hãy nhớ rằng tất cả điều đó có thể được tránh nếu chúng ta thực hành 10 giới răn mà Thiên Chúa đã ban cho chúng ta. Đó là 10 điều rất đỗi đơn giản mà nếu chúng ta có thể thực hành được thì chúng ta sẽ đón nhận được ơn tha thứ của Thiên Chúa.

Chị Lucia đã mất ngày 11-02-2005. Từ thập niên hai mươi, người ta đã tiên đoán rằng những lời tiên tri này sẽ được thực hiện… sau khi chị Lucia qua đời.

30.9.08

Nguồn Gốc Của Kinh Mân Côi


Căn cứ vào các nguồn tài liệu đáng tin nhất, một của Á Thánh Alan de la Roch, trong cuốn "De Dignitate Psalteri", và một của Thánh Louis Marie Grignion de Monfort, tron cuốn "Bí Mật Kinh Mân Côi", thì chính Đức Mẹ đã ban Kinh Mân Côi và dạy Kinh Mân Côi cho thánh Đaminh. Đức Thánh Cha Gregory XII cũng cho rằng: "Kinh Mân Côi được chính Thánh Đaminh thiết lập để làm nguôi cơn giận của Thiên Chúa và để cầu xin Rất Thánh Trinh Nữ bầu cử."

Vào thế kỷ 11 và 12, tại tỉnh Albi thuộc miền nam nước Pháp, có một lạc thuyết do bè rối Albigensê chủ trương là nhị nguyên. Thuyết này cho rằng Chúa Giêsu là một tạo vật được thần sai đến để giải thoát linh hồn con người bị giam cầm trong thể xác. Theo thuyết nhị nguyên thì Linh hồn con người cũng được thần lành dựng nên và xác thịt được thần đữ dựng nên để giam cầm Linh hồn. Sau bao nhiêu nỗ lực mà vẫn thảm bại để chinh phục bè Albigensê rối này, thánh Đaminh rút vào một khu rừng gần thành phố Toulouse nức Pháp để cầu nguyện. Trong thời gian này Thánh nhân khóc lóc, ăn chay và phạt xác mong làm nguôi cơn giận của Chúa. Ngài đã thực hành việc khổ hạnh thân xác cho đến nỗi bị ngất lịm đi. Chính lúc đó Đức Mẹ cùng ba Thiên Thần theo hầu đã hiện ra với Thánh Nhân mà nói:

Đaminh yêu dấu, con có biết Ba Ngôi Thiên Chí Thánh muốn dùng khí giới nà để canh tân thế giới không?

Thánh Đaminh đáp:

Ôi lạy Mẹ, Mẹ biết rõ hơn con, vì ngay sau Chúa Giêsu, Con Mẹ, Mẹ luôn là khí cụ chính yếu cho phần rỗi cùa chúng con.

Bấy giờ Đức Mẹ nói:

Mẹ muốn cho con biết rằng, trong loại trận chiến này, khí giới cần phải dùng bao giờ cũng là Thánh Vịnh Thiên Thần, viên đá nền tảng cùa Tân Ước. Do đó, nếu con muốn giảng dạy cho các linh hồn cứng lòng và đem họ về với Chúa, con hãy rao giảng Thánh Vịnh này của Mẹ.

Từ đó, thánh Đaminh đã là sứ giả của Đức Mẹ và là tông đồ tiên khởi truyền bá Kinh Mân Côi từ năm 1214.

Cho dù chúng ta không biết chắc có thật Đức Mẹ đã ban và dạy thánh Đaminh Kinh Mân Côi hay không, song chúng ta cũng có thể tin được sự kiện này thậy đã xảy ra. Ở nơi, chính Đức Mẹ trong hai lần hiện ra tại Lộ Đức năm 1858 và Fatima năm 1917 đã cầm trong tay tràng hạt Mân Côi, như để xác nhận là chính Mẹ đã ban Kinh Mân Côi và dạy lần hạt Mân Côi, một kinh mà Đức Thánh Cha Phaolô VI đã viết trong Thông Điệp "Trong Thánh Năm (Mense Maio)" rằng: "Rất đẹp lòng Đức Mẹ và được Đức Giáo Hoàng khuyến giục nhiều nhất".

Lần hiện ra tại Lộ Đức Mẹ đã lần hạt Mân Côi với chị Thánh Bernadette bằng việc dùng ngón tay đưa từng hột chuỗi theo mỗi Kinh Kính Mừng chị đọc. Sau mỗi chục kinh thì Mẹ đọc chung với chị Kinh Sáng Danh.

Trong cả 6 lần hiện ra tại Fatima với ba em thiếu nhi Lucia, Phanxicô và Giaxinta, Đức Mẹ đã kêu gọi các em hãy lần hạt Mân Côi hằng ngày. Trong lần hiện ra cuối cùng Mẹ đã tự xưng "Ta là Đức Mẹ Mân Côi". Trong lần hiện ra thứ ba, Đức Mẹ đã xin các em thêm vào sau mỗi chục kinh lời nguyện: "Ôi Chúa Giêsu của chúng con, xin tha thứ cho chúng con, xin cứu chúng con khỏi lửa hỏa ngục. Xin dẩn đưa các linh hồn lên Thiên Đàng, nhất là những linh hồn cần hơn hết."

Trong bài giảng tại Fatima ngày 13/5/1982, Đức Thánh Cha Gioan-Phaolô II đã nói về Kinh Mân Côi đối với Đức Mẹ như sau: "Lời kêu gọi thống hối bao giờ cũng được gắn liền với cầu nguyện. Hợp với truyền thống của bao thế kỷ, Đức Mẹ của sứ điệp này đã đề cập đến Kinh Mân Côi, một kinh có thể được khẳng định là Kinh của Mẹ Maria, một kinh mà Mẹ đặc biệt cảm thấy gắn liền với chúng ta."

Thực ra, theo cuốn Ciudad de Dios của đáng kính Maria D'Agreda viết trong thế kỷ 17 về cuộc đời của Đức Mẹ, như được Đức Mẹ tỏ cho biết, thì Kinh Mân Côi được bắt đầu nhen nhúm từ lúc Đức Mẹ tạ thế, qua lời xướng hoạ của các Thiên Thần từ trời xuống.

Xướng: Kính Mừng Maria đầy ơn phúc, Thiên Chúa ở cùng Trinh Nữ.

Đáp: Một Trinh Nữ trước khi sinh Con, đang khi sinh Con và sau khi sinh Con.

Thế là từ đó người ta bắt đầu bắt chước lời xướng hoạ này cho đến khi Đức Mẹ truyền dậy Kinh Mân Côi cho Thánh Đaminh.

Năm 1569, Thánh Giáo Hoàng Piô V đã chính thức công nhận Kinh Mân Côi với kết cấu của kinh như hiện dụng, sau khi thêm lời nguyện "Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi nay và trong giờ lâm tử Amen." vào phần cuối của kinh Kính Mừng, và kinh Sáng Danh vào sau mỗi chục kinh.

11.9.08

Phép lạ mới đây tại Ai-cập !



(Tạm dịch từ bản tiếng Anh)
Một người đàn ông Hồi giáo ở Ai-cập giết vợ vì chị này đọc Kinh Thánh, rồi đem chôn cùng với hai đứa con gái, một còn đang bú và một đã lên tám.
Cả hai bé gái đều bị chôn sống ! Sau đó anh ta đến báo với cảnh sát là một ông chú đã giết chết hai đứa bé. Mười lăm ngày sau, một thành viên khác trong gia đình qua đời. Khi đưa người chết đi chôn, người ta tìm thấy hai bé gái bị vùi dưới cát – VẪN CÒN SỐNG !
Toàn quốc Ai-cập đều căm phẫn sâu sắc về vụ việc xảy ra, và kẻ sát nhân sẽ bị hành hình vào cuối tháng Bảy (2008).
Người ta hỏi bé gái 8 tuổi làm cách nào để có thể sống sót được và em đã trả lời : "Một người đàn ông mặc áo trắng rực rỡ, cùng với các vết thương trên hai bàn tay, hằng ngày đến nuôi sống chúng cháu. Người ấy đánh thức mẹ cháu dậy để mẹ cháu có thể cho em bú". Cô bé đã được phỏng vấn bởi một phụ nữ Hồi giáo mang mạng che mặt phụ trách kênh tin tức trên Đài Truyền Hình Ai-Cập . Người này đã nói công khai trên truyền hình, "Đó chính là Đức Giêsu, bởi chẳng một ai khác có thể làm được những việc như thế !"
Những người Hồi giáo tin rằng Isa (tức là Chúa Giêsu) đã thực hiện việc đó, các vết thương có nghĩa là Người thực sự đã chịu đóng đinh, và rõ ràng là Người đang sống ! Đằng khác, cũng hết sức rõ ràng là đứa bé không thể bịa ra được một câu chuyện như thế, và hai đứa trẻ không thể nào sống sót nếu không có một phép lạ thực sự.
Các nhà lãnh đạo Hồi giáo đang phải trải qua một thời khắc khó khăn chưa biết xử trí ra sao về việc này, và việc phổ biến các phim ảnh "Chết Vì Đạo" cũng chẳng giúp được gì ! Ai-cập là một quốc gia nằm ở trung tâm của việc truyền thông và giáo dục tại vùng Trung Đông, các bạn có thể tin chắc là câu chuyện này sẽ được phổ biến rộng rãi. Đức Kitô vẫn đang kiểm soát và biến đổi thế giới. Hãy sẵn lòng chia sẻ câu chuyện này với mọi người.

Đức Chúa phán, 'Phúc thay kẻ đặt niềm tin vào Đức Chúa". (Gr. 17)



Nguyên văn :

Recent miracle in Egypt ! Broadcasted in CBS...
A Muslim man in Egypt killed his wife because she was reading the Bible and then buried her with their infant baby and an 8-year old daughter.

The girls were buried alive! He then reported to the police that an uncle killed the kids. 15 days later, another family member died. When they went to bury him, they found the 2 little girls under the sand - ALIVE!

The country is outraged over the incident, and the man will be executed at the end of July.

The older girl was asked how she had survived and she says:- 'A man wearing shiny white clothes, with bleeding wounds in his hands, came every day to feed us. He woke up my mom so she could nurse my sister,' she said. She was interviewed on Egyptian national TV, by a veiled Muslim woman news anchor. She said on public TV, 'This was none other than Jesus, because nobody else does things like this!'

Muslims believe Isa (Jesus) would do this, but the wounds mean He really was crucified, and it's clear also that He is alive! But, it's also clear that the child could not make up a story like this, and there is no way these children could have survived without a true miracle.
Muslim leaders are going to have a hard time to figure out what to do with this, and the popularity of the Passion movie doesn't help! With Egypt at the centre of the media and education in the Middle East , you can be sure this story will spread. Christ is still controlling and turning the world. Please let this story be shared.

The Lord says, 'I will bless the person who puts his trust in me. (Jeremiah 17)

24.8.08

Las Lajas "Nhà thờ đẹp và bí ẩn nhất thế giới"


Thánh đường Las Lajas (theo tiếng Tây Ban Nha là Cathedral de Las Lajas hay Santuario de Las Lajas) là một Đại thánh đường nằm tại miền nam Nariño (Colombia), thuộc thành phố tự trị Ipiales và được xây dựng bên trong hẻm núi sông Guaitara.

Las Lajas, được xây dựng theo lối kiến trúc Gothic từ ngày 1 tháng giêng năm 1916 đến 20 tháng 8 năm 1949 trên nền của một nhà thờ nhỏ có từ thế kỷ 19. Tên Lajas xuất phát từ tên của một kiểu đá trầm tích phẳng tương tự loại gạch lát sàn được tìm thấy tại núi Andes. Có một truyền thuyết cho rằng, nơi đây người ta đã nhìn thấy sự xuất hiện của Đức mẹ đồng trinh Maria.


Câu chuyện về sự hình thành Đại thánh đường này kể, vào năm 1754 một người Mỹ da đỏ tên là Maria Mueces đang cõng trên lưng cô con gái Rosa tàn tật vừa bị câm điếc thì gặp một cơn bão lớn. Bỗng nhiên, Rosa cất tiếng (đây là lần đầu tiên trong đời Rose cất tiếng nói) yêu cầu mẹ đặt cô xuống hang núi trước mặt và chỉ tay về phía bức tranh sáng chói trên vách đá.

Theo như tài liệu mô tả được ghi chép bởi Fray Juan de Santa Gertrudis trong cuộc hành trình từ miền Nam Vương quốc Granada đến Châu Mỹ giữa năm 1756 đến 1762, Cô bé đã vẽ lại lên vách hang đá bức tranh nổi tiếng Đức mẹ đồng trinh Maria và con trai (được gọi là "Đức mẹ làm phép lạ") hiện đang được lưu giữ cẩn mật trong nhà thờ.

Vào 1951 Giáo hội Công giáo La Mã đã phong thánh đường Las Lajas là Thánh đường Đức Mẹ đồng trinh và công bố Thánh đường này như một đại giáo đường phụ vào năm 1954.

Trong những rặng núi xa xôi ở Tây Nam Colombia, Las Lajas được xếp hạng trong số những nhà thờ đẹp và hấp dẫn nhất trên thế giới để đi hành hương. Một khung cảnh tráng lệ lộng lẫy tựa xứ sở thần tiên, vẻ kiều diễm của Las Lajas như lấy hết sự sống của mọi thứ xung quanh. Las Lajas làm say mê lòng người khi vút cao lên giữa đại ngàn trong màu trắng lấp lánh và bám vào vách đá cheo leo, hiểm trở. Vách đá này dựng bên một nhánh sông chảy xiết, trong không gian chưa tới một dặm, làm thành hai đoạn cong hình chữ S chảy xuyên qua hẻm núi. Hai thác nước này chảy dữ dội từ rừng nhiệt đới bao phủ những vách đá, lao thẳng xuống một trăm dặm đến con sông cuộn sóng Guaitara này.

Mùa mưa đến rồi đi, kéo những mảng sương mù bí ẩn trên đỉnh núi đi xa, làm lộ ra ngôi thánh đường như nó vừa được tạo nên bởi bàn tay của nhà ảo thuật. Trong khúc hòa tấu với âm âm không ngừng của tiếng nước chảy, tiếng chuông nhà thờ vang lại xuyên qua những thung lũng núi, người ta tưởng chừng như đang lạc vào cõi mộng du...

18.7.08

BẢN KINH THÁNH CỔ NHẤT


BẢN KINH THÁNH CỔ NHẤT
được đưa lên ‘mạng lưới toàn cầu’.

(Linh mục Anphong Trần Đức Phương)

(Tổng kết theo Bản tin của AFP và Reuters, ngày 21/7/2008)

Vào hôm thứ Hai 21/7/08, nhân viên Thư viện Đại học Leipzig (Đức quốc), loan báo một trong hai bản Kinh Thánh (Bible) cổ nhất sẽ được đưa lên ‘Mạng lưới toàn cầu’ lần đầu tiên. Đó là Cổ Bản Kinh Thánh Sinai ( The Codex sinaiticus). Cổ Bản này đã được viết trên da thuộc, bằng tiếng Hy Lap vào khoảng năm 350 tại Aicập. Cổ Bản Kinh Thanh toàn thư khác là Cổ Bản Vaticanus (The Codex Vaticanus).

Cổ Bản Sinai đã được học giả Kinh Thánh Konstantin von Tischendorf (quốc tịch Đức) tìm thấy tại Tu viện Thánh Catarina
(Saint Catharine’s Monastery) Núi Sinai (trong Sa mạc Sinai) vào năm 1844 và ông được phép đưa một số cuốn về Leipzig. Rồi vào năm 1859, ông trở lại Tu viện và do sự bảo trợ của Hoàng gia
Nga , ông đem được hầu hết phần còn lại khoảng 350 trang viết trên da thuộc về St. Peterburg (Nga sô) và được lưu giữ ở đó . Đến năm 1933, Stalin đã bán hầu hết các Cổ Bản rất qúy giá này cho Thư Viện Anh Quốc ở Luân Đôn.

Cổ bản Sinai gồm toàn bộ Tân ước, còn các sách Cựu Ước không còn được toàn vẹn, gần như một nửa đã thất lạc. Từng phần của Cổ Bản Sinai hiện đang được lưu giữ ở 4 nơi khác nhau: Thư viện Đại Học Leipzig (Đức quốc), Thư viện quốc gia Nga sô, Thư Viện Anh Quốc và Tu Viện Thánh Catarina (Sinai, Ai Cập).

Công trình đem toàn bộ Cổ Bản Sinai lên ‘Mạng lưới toàn cầu’ là do nỗ lực của Đại Học Leipzig và Thư viện Anh Quốc cùng với sự cộng tác của Nga sô và Tu viện Thánh Catarina. Theo ông Ulrich Johannes Schneider, Giám Đốc thư viện Đại Học Leìpzig, công trình này nhằm mục đích giúp những ai muốn nghiên cứu, học hỏi về tài liệu nền tảng quan trọng của Kitô giáo; đồng thời cũng giúp mọi ngừời có thể đọc được toàn bộ

Cổ Bản Kinh Thánh rất qúy giá này trên ‘Mạng lưới toàn cầu’, mà trước đây ít ai có thể đọc được.

Cũng theo nguồn tin của Đại Học Leipzig, cuốn Phúc Âm theo Thánh Matcô và nhiều cuốn trong Cựu Ước sẽ được đưa lên ‘Mạng lưới toàn cầu’ vào tháng 7 này (2008) . Một số cuốn khác sẽ được đưa lên vào tháng 11 năm nay (2008) và phần còn lại sẽ đưa lên vào năm tới (2009).

Cổ Bản Sinai qúy giá này (cùng với công trình chú giải qua nhiều thế kỷ), đang được giữ từng phần ở 4 nơi rất xa cách nhau, sẽ được chụp phiên bản điện tử rất rõ và như vậy sẽ hợp thành toàn bộ trên ‘Mạng lưới toàn cầu’. Chúng ta có thể đọc được nguyên Cổ Bản bằng tiếng Hy lạp cùng với những hình ảnh chụp điện tử rất rõ; đồng thời sẽ có bản dịch tiếng Anh và tiếng Đức những phần quan trọng để những ai không thông thạo cổ ngữ Hy lạp có thể nghiên cứu được.

Sau cùng, học giả Schneider nói: thật là tuyệt vời , nhờ kỹ thuật tân tiến , mà chúng ta có thể đưa lên ‘Mạng lưới toàn cầu’ thật rõ ràng và chính xác một công trình cổ điển vô cùng qúy giá mà trước đây ít ai có thể biết tới ; bây giờ thì người nào cũng có thể truy cập được. Chúng ta có thể truy cập công trình kỳ diệu này qua ‘Mạng lưới toàn cầu’:
www.codex-sinaiticus.net

30.5.08


Chứng cớ cho thấy động đất Tứ Xuyên là do vụ nổ
hạt nhân tạo ra!

Người viết: Administrator
05/06/2008

Chứng cớ cho thấy động đất Tứ Xuyên là do vụ nổ hạt nhân tạo ra!
Tác giả: Wu Weilin, Epoch Times - Khúc Hạ lược dịch

Một chuyên gia dấu tên cho rằng vụ nổ hạt nhân gần đây đã gây ra trận động đất nặng đến 8.0 ở Sichuan, Trung Cộng, nơi mà sau tai ương ba tuần, con số tử vong đã lên đến hơn 69,000 người.

Website Trung Hoa Boxun News ở hải ngoại thông báo rằng chuyên gia này đã xác nhận có một vụ nổ hạt nhân gần trung tâm địa chấn, căn cứ vào lời thuật lại của các nhân chứng, và việc khám phá ra những mảnh vụn xi măng được biết đã đến từ một trung tâm quân đội đặt ngầm dưới mặt đất.

Ông He, một cư dân địa phương, nói rằng khi cơn động đất xẩy ra vào ngày 12 tháng Năm, người ta nhìn thấy cái gì đó nổ tung ra từ một đỉnh núi bên cạnh thung lũng, "Nó trông giống như kem đánh răng được ép ra ngoài", ông ta nói. "Không, nó không phải là chất nhão (như kem), mà là những mảnh vụn xi măng này. Sự phun ra kéo dài khoảng ba phút."

Theo tin của China News Services (một thông tấn xã Trung Hoa), vào ngày 31 tháng Năm, những chuyên viên cứu cấp và những nhà tâm lý học của nhà thương Quân Đội Giải Phóng Nhân Dân, từ Bắc Kinh đến nơi động đất làm việc vào ngày 23 tháng Năm, đã tìm thấy những mảnh vụn xi măng ở dưới đáy một thung lũng gần chấn tâm. Thung lũng rộng nửa dặm này đã bị bao phủ bởi những mảng vụn dầy từ 10 đến 20 inches, bao trùm đáy thung lũng khoảng 1.5 dặm.

Trong lúc xẩy ra cuộc động đất, trong vùng không có một công trình xây cất đang dở dang nào. Chuyên gia của Boxun News nhận định rằng bề dày những mảnh vụn xi măng phù hợp với xi măng dùng ở trung tâm quân đội dưới mặt đất. Ông ta giải thích rằng mặc dù động đất có thể gây ra núi phun lửa, nhưng không có trường hợp động đất nào tạo ra núi phun những mảnh vụn xi măng.

Dựa vào tường thuật của CNS (China News Services), và thời điểm của sự nổ tung tại hiện trường, người ta không tìm thấy chứng tích những hoạt động tự nhiên của núi lửa. Chuyên gia này cho biết ông ta có thể xác quyết rằng một vụ nổ vũ khí hạt nhân đã làm gẫy vụn một cấu trúc ngầm dưới mặt đất, và ném tung những mảnh vụn vào không gian.

Người ta được biết có ít nhất là một trung tâm nguyên tử của Trung Cộng được đặt ở thành phố Mianyang, Tứ Xuyên, gần trung tâm địa chấn.

Những người Trung Hoa chuyên xử dụng mạng lưới Internet bình luận rằng ngay sau khi xẩy ra trận động đất, nhiều lực lượng quân đội đặc biệt đã ngăn chặn giao thông hướng về phía núi gần chấn tâm, và người ta cũng phát hiện nhiều người đàn ông mặc quần áo ngăn hóa chất màu trắng lái những chiến xa quân đội đi về hướng núi. Theo những nhân chứng, tất cả những chuyên viên cứu cấp khu gần chấn tâm đều thuộc quân đội.

Chuyên gia này tin rằng vụ nổ hạt nhân đã không chỉ giới hạn quanh vùng thử vũ khí ngầm, mà còn đã gây ra sự ô nhiễm bức xạ. Ông tường thuật rằng trong một cú phôn gọi tới Bắc Kinh ông ta đã khuyên nhà chức trách nên nhận trợ giúp từ những nước khác, cô lập ngay vùng bị động đất, tìm kiếm và trợ giúp những người đã bị ảnh hưởng bởi sự ô nhiễm, và áp dụng những biện pháp khẩn cấp để ngăn ngừa việc nước bị làm độc.

15.5.08



PHẾP LẠ THÁNH THỂ Ở LANCIANO

Sách báo đã viết không ít về những phép lạ liên quan đến bí tích Thánh Thể. Ở đây chỉ xin đựơc nhắc laị phép lạ đã xẩy ra tại Lanciano thuộc vùng Frentania nước Ý. Phép lạ này tuy xẩy ra từ thế kỷ thứ 8 nhưng các cuộc nghiên cứu cho đến cách đây không lâu lắm, năm 1971 cũng vẫn cho thấy khoa học không thể bác bỏ được.
Câu chuyện xẩy ra trong ngôi nhà thờ bé nhỏ kính thánh Legonziano ở Lanciano. Một đan sĩ Dòng Thánh Basilio, trong lúc cử hành thánh lễ, sau khi đọc lời truyền phép, bỗng cha thấy thoáng một chút hoài nghi về sự hiện diện đích thực của Mình và Máu Thánh Chúa Giêsu bên trong hình bánh và rượu. Vậy là, trong phút chốc, tấm bánh trắng trong tay cha đã biến thành một miếng Thịt sống, và rượu trong chén thánh đã trở nên Máu tươi dưới dạng 5 cục đông đặc lớn nhỏ khác nhau. Mãi cho đến hôm nay, những gì xẩy ra ngày hôm đó vẫn còn được lưu giữ trọn vẹn và hàng ngày đã thu hút người hành hương từ khắp nơi trên thế giới đến kính viếng Mình Máu Thánh Chúa. Dưới đây xin được ghi lại một phần bài viết của linh mục Jean Derobert nói về những cuộc nghiên cứu liên quan đến phép lạ Lanciano được trích đăng trên MeMaria.org ngày 18-6-2006 để cùng suy nghĩ.
“Trải qua nhiều thế kỷ, nhiều biên bản giám định đã được tiến hành bởi các Đấng Bản quyền trong Hội Thánh, đặc biệt, của Đức Hồng Y Rodriguez vào ngày 17.2.1574, của Đức Giám Mục Phó của Giáo Phận năm 1637, của Đức Hồng Y Gervasone năm 1770, và của Đức Hồng Y Petrarca ngày 26.10.1886.
Ngày 18.11.1970, được Đấng Bản Quyền cho phép, các Tu Sĩ Phan-xi-cô đã ủy thác Di Tích Thánh cho một nhóm các nhà khoa học cùng tiến hành phân tích, đứng đầu là giáo sư Odoardo Linoli chuyên về giải phẫu cơ thể, bệnh lý các mô, hóa học và lâm sàng. Ngoài ra còn có sự cộng tác của giáo sư Ruggero Bertelli của Trường Đại Học Sienna.
Ngày 4.3.1971, ngay trong Nhà Thờ Thánh Phan-xi-cô, giáo sư Linoli đã tổ chức một hội nghị trình bày các kết quả nghiên cứu trước các vị Bề Trên Dòng cũng như chức sắc dân sự, cả các vị đại diện ngành văn hóa và y khoa. Các phân tích đã được minh họa bởi một bộ ảnh chụp bằng ống kính hiển vi. Và các kết luận sau đó đã được đăng tải trên rất nhiều tạp chí khoa học khắp thế giới như sau:
- Đây là thịt và máu thật sự.
- Cả thịt và máu đều thuộc về cùng một cơ thể con người.
- Cả thịt và máu đều thuộc vào nhóm máu AB.
- Phần máu cho thấy đây là máu của một con người hiện tại, ngay ngày hôm nay, chứ không phải là đã được lưu giữ 12 thế kỷ trước.
- Phần thịt cho thấy đây là một thớ thịt thuộc phần cơ của quả tim.
- Không hề có dấu hiệu nào cho thấy có một chút liên quan gì đến các dung dịch dùng để ướp xác.
- Các thớ thịt cho thấy không hề có một bàn tay nào đã giải phẩu và lấy ra từ một con người. Phần máu cũng không hề được rút ra từ một xác chết, nếu không, nó đã bị biến chất, phân hủy và thối rữa.
- Các hàm lượng chất prô-tê-in chứa trong máu đều bình thường.
- Một số chất đã được tìm ra trong máu gồm có: clo-rua, phốt-pho, ma-nhê, na-tri và can-xi.
- Việc bảo quản các Di Tích Thánh trong tình trạng tự nhiên trong suốt nhiều thế kỷ, mà không bị ảnh hưởng một chút gì bởi các tác nhân vật lý, khí hậu và sinh học, quả là một hiện tượng khoa học không thể nào giải thích nổi.
Tiếp sau bản báo cáo gây xúc động của giáo sư Linoli, đại diện tối cao của tổ chức OMS ( Organisation Mondiale de la Santé ) của Liên Hiệp Quốc đã thành lập một hội đồng khoa học để kiểm chứng lại những kết luận nói trên. Công việc kéo dài trong 15 tháng với tất cả 500 thí nghiệm. Các kết luận đều giống nhau. Các Di Tích Thánh ở thành Lanciano không thể được coi như một thứ xác ướp. Người ta không thể giải thích tại sao và như thế nào mà các Di Tích Thánh này lại được lưu giữ trong suốt 12 thế kỷ mà không hề có một phương tiện bảo tồn khoa học nào.
Về tình trạng của mẩu Thịt, Hội Đồng đã mạnh dạn công bố rằng: đây là một thớ thịt tươi nguyên bởi nó có thể nhanh chóng đáp ứng trước mọi nghiên cứu lâm sàng như đối với những cơ phận sống của một con người”.

Lại Thế Lãng

Xứng Đáng Để Rước Thánh Thể


[Ghi chú: Đây là văn thư ĐHY Ratzinger gửi ĐYH McCarrick và được công bố tuần lễ thứ nhất của tháng 7, 2004]

Những Nguyên Tắc Tổng Quát

ĐHY Giuse Ratzinger

1. Quyết định lên Rước Lễ phải là một quyết định có ý thức, dựa vào một phán đoán hợp lý về tình trạng xứng đáng của mình để được làm như thế, theo những tiêu chuẩn khách quan của Hội Thánh, bằng cách tự hỏi mình những câu hỏi như: “Tôi có hoàn toàn hiệp thông với Hội Thánh không? Tôi có đang mắc tội trọng không? Tôi có đang bị vạ (như tuyệt thông, bị cấm) để tôi không được Rước Lễ không? Tôi có sửa soạn bằng cách ăn chay 1 tiếng đồng hồ không?” Việc lên Rước Lễ bừa bãi, như là kết quả của sự hiện diện trong Thánh Lễ, là một lạm dụng cần phải sửa lại (x. Chỉ dẫn “Redemptoris Sacramentum,” số 81, 83).

2. Hội Thánh dạy rằng phá thai và giết chết êm dịu là tội trọng. Thông Điệp Evangelium Vitae, khi nói về những quyết định luật pháp hay luật dân sự cho phép hoặc ủng hộ phá thai và giết chết êm dịu, nói rằng có một “nhiệm vụ trầm trọng và rõ ràng phải chống lại chúng bằng sự phản đối theo lương tâm. […] Trong trường hợp những luật lệ tự bản chất là bất công, như những luật cho phép phá thai và giết người êm dịu, đương nhiên là không bao giờ đúng luật phải tuân hành, hay “tham gia vào một cuộc vận động ủng hộ những luật như thế hoặc bỏ phiếu cho những luật như thế” (số 37). Các Kitô hữu có “trách nhiệm nặng nề về lương tâm không được chính thức cộng tác và việc thực hành những điều trái với luật của Thiên Chúa dù pháp luật dân dự cho phép. Thực sự, theo quan điểm luân lý, không khi nào hợp luật khi hợp tác với thần dữ cách chính thức. […] Sự hợp tác này không thể nào biện minh được dù là lấy cớ tôn trọng sự tự do của người khác hay dựa vào việc luật dân sự cho phép hoặc đòi hỏi phải làm việc ấy” (số 74).

3. Không phải tất cả những vấn đề luân lý có cùng một sự trầm trọng về luân lý như phá thai và giết chết êm dịu. Thí dụ, nếu một người Công Giáo không đồng ý với ĐTC về việc sử dụng án tử hình hay quyết định tiến hành chiến tranh, thì lý do đó không làm cho người ấy không xứng đáng để Rước Lễ. Trong khi Hội Thánh khuyên các nhà chức trách dân sự tìm kiếm hòa bình, chứ không phải chiến tranh, và thận trọng cùng nhân đạo trong việc áp dụng hình phạt cho các tội nhân, người ta vẫn được phép vũ trang để chống lại một kẻ tấn công hay cậy nhờ vào án tử hình. Có thể có nhiều ý kiến khác nhau trong số những người Công Giáo về việc tiến hành chiến tranh và áp dụng án tử hình, nhưng tuy nhiên không có chuyện đó đối với phá thai và giết chết êm diụ.

4. Ngoài phán đoán của cá nhân về việc mình có xứng đáng Rước Lễ hay không, thừa tác viên Thánh Thể có thể rơi vào tình trạng phải từ chối không cho một người Rước Lễ, như những trường hợp một người bị tuyên bố là truất phép thông công, bị cấm, hay cố chấp tiếp tục tỏ lộ những tội nặng (x. gl 915).

5. Về trọng tội phá thai và giết chết êm dịu, khi việc chính thức hợp tác của một người trở nên tỏ tường (được hiểu, trong trường hợp một chính trị gia Công Giáo, khi người đó luôn luôn cổ động và bỏ phiếu cho chấp thuận cho các luật phá thai hoặc giết chết êm dịu), Mục tử của người ấy nên gặp người ấy, chỉ dạy người ấy về giáo huấn của Hội Thánh, cho người ấy biết rằng người ấy không được lên Rước Lễ cho đến khi chấm dứt tình trạng cố tình phạm tội ấy, và cảnh cáo người ấy rằng nếu không người ấy sẽ không được Rước Lễ.

6. Khi “những biện pháp đề phòng này không có hiệu quả hay trường hợp không thể được,” và nhân vật được đề cập đến, tiếp tục cố chấp, vẫn lên Rước Lễ, “thừa tác viên Thánh Thể phải từ chối trao Mình Thánh cho người ấy” (x. Tuyên Ngôn của Hội Đồng Giáo Hoàng về Các Bản Văn Luật Pháp “Rước Lễ và Những người Công Giáo Ly Dị, Tái Hôn tại Tòa Đời” [2002], số 3-4). Nói đúng ra, quyết định này, không phải là sự thừa nhận hay hình phạt. Thừa tác viên Thánh Thể cũng không phán đoán về tội chủ quan của ngườ ấy, nhưng là một phản ứng về tình trạng bất xứng công khai của người ấy trong việc Rước Lễ vì một tình trạng tội lỗi khách quan.

[Ghi chú. Một người Công Giáo có thể phạm tội hợp tác với thần dữ, và không xứng đáng lên Rước Lễ, nếu người ấy cố tình bỏ phiếu cho một ứng cử viên chính vì lập trường ủng hộ của ứng cử viên ấy với việc phá thai và/hay giết chết êm dịu. Khi một người Công Giáo không đồng quan điểm với ứng cử viên về vấn đề phá thai và/hay giết chết êm dịu, nhưng bầu cho ứng cử viên ấy vì những lý do khác, điều này được coi là gián tiếp cộng tác, điều này có thể được phép nếu có những lý do tương xứng.]

Phaolô Phạm Xuân Khôi chuyển ngữ
ĐHY Ratzinger (ĐTC Bênêđictô XVI)