13.3.08

Sơ Lược Về Thánh Tượng Đức Mẹ Từ Fatima Thánh Du


Đây là tác phẩm quí giá của một điêu khắc gia nổi tiếng Bồ Đào Nha. Tượng được tạc bằng gỗ sồi, thực hiện ngay tại Fatima, dưới sự hướng dẫn và góp ý của chính Chị Lucia, người được diễm phúc xem thấy Đức Mẹ.
Tượng cao 1m20, nét mặt dịu hiền, đầu đội triều thiên, tỏ trái tim nơi ngực, có vòng gai cuốn chung quanh trái tim; tay phải cầm tràng hạt rũ xuống, tay trái giơ ra như mời gọi mọi người hãy đến với Mẹ nhân lành. Đức Cố Giáo hoàng Gioan XXIII đã làm phép Thánh Tượng với mục đích đem đi thăm viếng ủi an các bệnh nhân trên khắp thế giới. Úc là nước đầu tiên được hân hạnh đón Thánh Tượng về thăm anh chị em bệnh nhân trong nước.

Tại sao Thánh Tượng được rước sang Việt Nam?
Trên đời, đôi khi cái rủi lại mang theo một cái may rất ý nghĩa. Năm 1965, kỷ niệm giáp năm, Đạo Binh Xanh Đức Mẹ tổ chức một cuộc thánh du, với ước vọng cậy nhờ Đức Mẹ giải quyết nạn đấu tranh kỳ thị tôn giáo đang sôi động tại Việt Nam. Người đề nghị đem Thánh Tượng Mẹ Fatima sang Việt Nam để cứu vãn tình thế là một linh mục người Bỉ. Người được ủy thác đem Thánh Tượng Mẹ tới Việt Nam là Ông R. Bergin, thuộc Đạo Binh Xanh Úc, lúc đó đang ở Âu Châu. Thánh Tượng dự định đi thăm viếng Việt Nam là tượng Đức Mẹ Hòa Bình, hai tay chắp trước ngực. Trước khi lên đường đi Sài-gòn, Ông Bergin điện tín báo tin ngày giờ dự tính đến Việt Nam và xin trả lời gấp. Nhưng vì Sài-gòn lúc đó vẫn chưa qua cơn ác mộng đã kéo dài từ khi xẩy ra biến cố dau thương 1.11.63, nên những người hữu trách dè dặt, chần chừ... tới khi trả lời thì ông Bergin đã trở về Úc, vì quá hẹn. Ông Bergin để tượng Đức Mẹ Hòa Bình lại nơi trụ sở Đạo Binh Xanh Ý, và coi như Việt Nam không nhận lời đề nghị.
Tuy nhiên, anh em Đạo Binh Xanh Việt Nam, khi không thấy ông Bergin đem Thánh Tượng Mẹ đến Sài-gòn, thì tức tốc điện cho Fatima và xin được liên lạc gấp với ông Bergin. Để giải quyết vấn đề mau chóng, ông Bergin, liền điều đình để mượn Thánh Tượng tỏ trái tim đang thăm viếng các bệnh viện Úc, để đem sang Việt Nam. Được sự đồng ý của hàng Giáo Phẩm Úc, Ông Bergin vội vã đem Thánh Tượng Mẹ sang Việt Nam ngay. Với tất cả niềm hân hoan, anh em Đạo Binh Xanh cùng với các đoàn thể, đã tổ chức cuộc tiếp đón và cung nghinh Thánh Tượng Mẹ từ phi trường Tân Sơn Nhất về Công Trường Hòa Bình, trước Vương Cung Thánh Đường Sài-gòn một cách hết sức trọng thể.
Vị Khâm Sứ Tòa Thánh tại Việt Nam, Đức Cha Angelos Palmas, sau khi chủ sự nghi lễ cung nghinh chào mừng Thánh Tượng, đã đưa ra sáng kiến phát động ngay chiến dịch "toàn quốc hiến dâng đau khổ" làm bó hoa thiêng dâng kính Trái Tim Mẹ, trong suốt thời gian Mẹ ở lại Việt Nam. Sáng kiến này được mọi người nhiệt liệt hưởng ứng. Khắp nơi khao khát được rước Thánh Tượng Mẹ đến an ủi viếng thăm, làm cho thời gian thánh du không còn phải vài ba tháng, nhưng là dài tới 3 năm: 1965-1967.
Quả thật, Thánh Tượng Mẹ đi tới đâu, thì đều mang đến những ơn phúc cho con cái Mẹ, nhất là bằng an tâm hồn. Mẹ đã làm cho những người chào đón Thánh Tượng Mẹ cảm thấy niềm vui tràn ngập tâm hồn. Thánh Tượng Mẹ tới đâu thì mọi người, lương cũng như giáo, đều lấy tình thương xóa bỏ mọi tranh chấp, hận thù, và coi như anh em con cùng một Mẹ. Tại nhiều nơi, anh em Cao Đài, Hòa Hảo, Phập Giáo còn cử nhiều phái đoàn cầm biểu ngữ đứng bên cạnh những linh mục Công Giáo, để hoan hô Thánh Tượng Mẹ. Tại khu Bến Hải, nơi phân chia ranh giới hai miền quốc gia và cộng sản, khi nghe nói Thánh Tượng Mẹ sẽ tới thăm, thì mọi người không phân biệt lương giáo, tất cả đề vui sướng rủ nhau kéo đến chào mừng, hoan hô Thánh Tượng Mẹ và xin cho hòa bình thế giới và dân tộc.
Trong thời gian 3 năm ở tại Việt Nam, Thánh Tượng Mẹ đã lần lượt được rước đi thăm viếng hết giải đất Việt Nam tự do, từ Bến Hải đến tận mũi Cà Mâu: các tỉnh, giáo phận, giáo xứ, chủng viện, dòng tu, bệnh viện, trụ sở, căn cứ và cả tới những lao tù cũng được Thánh Tượng Mẹ tới thăm an ủi con cái đau thương của Mẹ. Những miền thiếu an ninh, đường xá nguy hiểm thì đã liệu cho trực thăng đem Thánh Tượng Mẹ tới tận nơi an toàn để an ủi các con cái Mẹ với tất cả tình mến yêu, và cùng dâng lên Mẹ những đau khổ như của lễ hy sinh xin ơn hòa bình.
Những năm gần đây, Thánh Tượng được tôn kính tại trung tâm quốc tế Đạo Binh Xanh Fatima, để hằng năm từng triệu người từ khắp nơi trên thế giới đổ về Fatima kính viếng Mẹ, thì cũng có cơ hội nhìn ngắm Thánh Tượng đã đích thân chứng kiến những năm dài đau thương vì chiến tranh của dân tộc Việt Nam, được coi như một của lễ hy sinh cho hòa bình thế giới, như một chứng tích tình thương vô biên của Mẹ. Rồi đây, một ngày long trọng đón rước về Việt Nam và sẽ ở lại vĩnh viễn với con cái Mẹ.
Năm 1984 nhân dịp kỷ niệm 2,000 năm Sinh Nhật Đức Mẹ, Chi Dòng Đồng Công Hoa Kỳ đã nhờ ông John Haffner, Giám Đốc Đạo Binh Xanh Hoa Kỳ, và là nhân viên quan trong trong Ủy Ban Điều Hành Đạo Binh Xanh Quốc Tế can thiệp, để được đón Thánh Tượng Mẹ tới Hoa Kỳ, nơi hiện qui tụ một số người Việt Nam, Công Giáo và ngoài Công Giáo đông nhất tại Hải Ngoại.
Đạo Binh Xanh Quốc Tế bằng lòng để Chi Dòng Đồng Công đưa Thánh Tượng Fatima này qua Hoa Kỳ thăm viếng Đoàn Con Việt Nam tại đây.
Thế là ngày Thánh Mẫu 1984, tại trụ sở Chi Dòng Đồng Công, Mẹ lại trở lại với con cái Việt Nam đang gởi thân trên đất khách quê người, để rồi cũng từ đây, các con cái Mẹ có dịp đến với Mẹ hằng năm trong những ngày Thánh Mẫu để cầu khẩn, yêu mến và tôn vinh Mẹ, và rồi từ nơi trụ sở Chi Dòng này, Mẹ lại đến với các con cái Việt Nam của Mẹ rải rác trên khắp đó đây để ban bố tình thương của Ngài cho những con cái Việt Nam đau khổ.
Qua những dữ kiện trên, chúng ta thấy một mối tương quan chặt chẽ giữa Thánh Tượng Mẹ và con cái Việt Nam. Khi còn ở quê nhà, Mẹ đã đến thăm; và khi cất bước lưu lạc nơi đất khách quê người, Mẹ cũng luôn ở bên để đáp ứng những nhu cầu con cái kêu xin. Nếu chủ ý của Đức Gioan XXIII muốn Thánh Tượng Mẹ đến với những người đau khổ thì quả thật, còn ai đau khổ hơn con cái Việt Nam với bao nhiêu năm chiến tranh rồi tiếp tục bị cộng sản thống trị và nghèo khó lan tràn khắp quê hương....
Chúng ta hãy cảm tạ tình thương bao la của Mẹ và dâng lên Mẹ những đau khổ của mỗi người, mỗi gia đình, cả Giáo Hội và Tổ Quốc Việt Nam cho Mẹ, và thực hành mệnh lệnh Mẹ ban, để hòa bình chân chính mau đến với quê hương Việt Nam.


BRIEF HISTORY OF THE STATUE OF
THE IMMACULATE HEART OF MARY
The statue of the Immaculate Heart of Mary, located at the Immaculate Heart of Mary Shrine in Carthage, Missouri since August 10, 1984, is the wonderful work of a famous Portuguese sculptor. Made of an oak tree, the statue was sculpted at Fatima under the direction of Sister Lucia, the sole survivor of the three children who saw our Lady in 1917. Forty-seven (47) inches high, the statue has a very graceful face, a golden crown on its head, a red heart surrounded with thorns on its chest, a rosary on its right hand while its left hand is extended, seeming to call all people to come to their heavenly Mother. The statue was solemnley blessed in the Vatican by Pope John XXIII with the special purpose of visiting and consoling suffering people all over the world.
The first country having the honor and privilege to welcome the statue was Australia. The Australians were pleased and abundantly blessed, especially those suffering in soul and body.
The Blue Army in Vietnam requested that the statue come and visit Vietnam as soon as possible for the country was in a very bad and miserable situation. The year was 1965. After obtaining the approval of the Australian bishops, Mr. Bergin, then the national leader of the Australian Blue Army, accompanied the statue to Saigon (now Hochiminh City) on October 11, 1965. Vietnam became the second country to welcome the statue. Dioceses, parishes, seminaries, schools, monasteries and convents expressed their great desire to welcome the statue. Priests, seminarians, religious men and women, faithful of different kinds, even groups of other religions such as; Buddhists, Caodaists and Confucianists, manifested their great joy and honor to have the statue come and visit them. They spent days and nights praying and saying the rosary before the statue asking for true peace and unity to come to the country.
The Congregation of the Mother Coredemptrix was extremely impressed by the warm and respectful welcome the Buddhists and the Caodaists offered the statue while it visited their pagodas and temples.
The Vietnamese people will never forget the historical visit of the statue.
After a three year visit in Vietnam, the statue of Our Lady of Fatima returned to Fatima just one day before May 13, 1967, when Pope Paul VI was there presiding over the Golden Jubilee Celebration (50 years: 1917-1967) of the apparition of Our Lady to three children.
A group of the Vietnamese Blue Army accompanied the statue to Fatima, and the statue remained at DOMUS PACIS. We don't know why the statue wasn't sent to other countries as it was to Australia and Vietnam, but we are sure that during its seventeen (17) years stay at the International Center of the Blue Army, the statue was visited by millions of people from all over the world.
In order to have a special remembrance of the 2000th birthday of our Lady, the U.S. Province of the Vietnamese Congregation of the Mother Coredemptrix of Carthage, Missouri, requested that the statue be sent for the Marian Day celebration on August 10-12, 1984. Vietnamese from all around the country participated in the celebration. Thanks to the intervention of Mr. John Haffert, the national lay leader of the U.S. Blue Army, the statue left Fatima on August 8 and arrived at Carthage on August 10 at 6:00 p.m., just three hours before the opening of the Marian Day celebration.
After the closing of the Marian Day celebration the statue remained at the Shrine of the Immaculate Heart of Mary in Carthage to be honored by the priests and brothers of the C.M.C.
Since September 16, 1984 the statue has visited many parishes, religious communities, in Texas, California, Kansas, Missouri, Pennsylvania, Washington, Connecticut, New Hampshire, New York, Maine, Arizona, Maryland, Rhode Island and Massachusetts. In April, 1988, the statue traveled to Australia.

CÂU CHUYỆN MÙA XUÂN: CHUYỆN “LÀM GIẦU”



(Có những người email hỏi tôi sao đã viết “Câu chuyện Mùa Hè”, rồi “Câu chuyện Mùa Thu” mà không thấy Chuyện Mùa Đông và Mùa Xuân?... Vậy hôm nay xin gửi đến quý vị “Câu chuyện Mùa Xuân”, còn Câu Chuyện Mùa Đông xin để tương lai trả lời.
Câu chuyện Mùa Xuân là những “Câu Chuyện Làm Giầu,” vì Mùa Xuân người ta thường chúc nhau “Phúc, Lộc, Thọ” (chúng ta nhớ lại bài thơ trào phúng của cụ Trần Tế Xương: Lẳng lặng mà nghe nó chúc nhau…)
Mở đầu là câu chuyện ngụ ngôn mà chắc qúy vị đã biết; nhưng cũng xin kể lại nơi đây để mở đầu câu chuyện “Làm Giầu.” Câu chuyện ngụ ngôn từ lâu lắm rồi… từ thời mà ‘loài vật còn nói được tiếng loài người!...’ ( nhân cách hóa con vật).

Có hai anh em nhà kia, người anh thì khôn khéo, lanh lẹ, và ham làm giầu. Người em lại thực thà, hiền lành. Khi cha mẹ mất đi, người anh lấy quyền huynh trưởng để chia gia tài và chiếm gần hết tài sản cha mẹ để lại; chỉ dành cho vợ chồng người em ngôi nhà nhỏ, lụp xụp với mấy cây ăn trái. Ngày ngày vợ chồng người em phải vất vả làm vườn, hái trái để kiếm ăn. Đặc biệt có cây khế là có trái ngọt bán được khá tiền để nuôi sống đàn con. Nhưng có con chim đại bàng cứ đến ăn những trái khế chín. Hai vợ chồng không biết làm sao để ngăn cản. Một hôm người chồng than thở với con chim về thân phận của gia đình mình. Con chim thương cảm tình cảnh của vợ chồng anh, nên bảo anh: “Hãy may cái túi ba gang mà đi đựng vàng.” Anh liền may chiếc túi ba gang và theo lời bảo của con chim, anh cưỡi lên mình con đại bàng. Con chim chở anh đi qua biển và đến một vùng có thật nhiều vàng và bảo anh lấy các thỏi vàng đầy chiếc túi ba gang. Sau đó con chim lại đưa anh trở về ngôi nhà cũ. Từ ngày đó gia đình anh sống khá giả hơn. Khi nghe được câu chuyện của người em, ông anh tham lam lại tìm cách đổi thửa đất có cây khế ngọt, rồi cũng than thở với con đại bàng về số phận của mình, và cũng được con chim bảo “Hãy may cái túi ba gang mà đi lấy vàng.” Người anh vui mừng, may túi, nhưng vì lòng tham lam anh đã mang đi chiếc túi rất lớn để có thể lấy cho được thật nhiều vàng. Con đại bàng cũng đưa anh qua biển cả đến chỗ kho vàng. Anh đã lấy thật nhiều thỏi vàng để bỏ vào chiếc túi to tới tám gang; rồi lại leo lên mình con chim để được đưa về nhà. Nhưng, ‘khôn quá hoá dại!’ Lòng tham quá độ của anh đã hại anh! Khi bay qua biển cả, con đại bàng chở anh cùng với số vàng quá nhiều, chịu không nổi, nên đã phải trút anh và số vàng chìm sâu xuống biển cả. Thế là lòng tham lam quá độ đã chôn sâu anh xuống lòng đại dương, sóng nước mênh mông!

Vừa rồi, đọc báo ‘điện tử trên mạng’ trong nước thấy mấy ông lớn ở Việt Nam, có ông làm tới Thứ Trưởng Bộ Thương Mại, giầu có gấp bội so với người dân nghèo trong nước Việt Nam thân yêu của chúng ta hiện nay, tuy nhiên lòng tham vô đáy, các ông đã biển thủ ‘tiền bạc của nhân dân’ lên tới tiền triệu, tính theo đô-la. Nhưng lòng tham đó đã ‘chôn sống’ các ông trong vòng lao lý, của cải bị tịch thu, gia đình tan nát.

Tại Hoa Kỳ, lâu lâu đọc báo, lại thấy mấy ông bà tham lam làm giầu, lập đường giây manh mối để đưa người về Việt Nam làm hôn thú giả, đưa sang xứ Cờ Hoa để lấy cả 40 ngàn đô-la, một số tiền lớn, dại gì không làm, nhưng ‘thiên bất dung gian,’ cuối cùng lòng tham cũng chôn sống các ông bà đó vào chốn tù tội và tài sản bị tịch thu. Có trường hợp, vợ thúc đẩy chồng, ‘giả vờ’ làm giấy ly dị, rồi sau đó về Việt Nam làm hôn thú với em gái của vợ để đưa sang Hoa Kỳ. Công việc được trót lọt, vì giấy tờ hợp pháp. Tuy nhiên sau đó, chị mới thấy mình dại dột vì lòng thương ‘hại’ đối với cô em gái của chị. Cuối cùng chị đã mất cả chồng, cả em, và gia đình cũng tan nát vì chồng chị đã mê cô em, bỏ chị, đi nơi khác để sống với cô em như vợ chồng .

Vừa qua, đọc báo thấy cả một đường giây do mấy ông bà Việt Nam ở Hoa Kỳ, nước Anh, Úc…thật là tài giỏi, khôn lanh. Mua nhà thật lớn, không ở cũng không cho thuê, chỉ để kín đáo trồng cây cần sa trong nhà để bán kiếm tiền triệu đô-la, rồi rửa tiền… Rút kinh nghiệm của các đường giây trước đã tiêu thụ số điện quá lớn để sưởi ấm cây trồng nên bị khám phá, mấy bạn trẻ lần này khôn ngoan, tài trí đến nỗi lập được hệ thống lấy thẳng điện từ thành phố, nên Công Ty Điện Lực không khám phá ra. Tuy nhiên FBI cũng khám phá ra. Báo chí tiếng Việt và tiếng Anh đã tường thuật đầy đủ chi tiết.

Ở vùng Tây Bắc Hoa Kỳ, mới đây một chiếc máy bay bị trục trặc máy móc, phải hạ cánh xuống một vùng đồi núi, và nhân viên nhà nước đi cứu nạn đã khám phá ra cả một vùng rộng lớn trồng toàn cần sa. Những người muốn làm giầu phi pháp cuối cùng cũng kết thúc bằng con đường đi đến tù tội, gia đình tan nát… Tuy nhiên cũng chẳng bù được vào cái tội làm giầu một cách phi pháp, đưa bao nhiêu con người vào vòng nghiện ngập, chưa kể tạo ra những băng đảng giết hại lẫn nhau vì buôn bán cần sa, ma túy.

Ngày nay, có nhiều ‘sòng bạc’ đã được mở ra ở khắp nơi. Nhiều người muốn làm giầu bằng cờ bạc đã bị tan gia bại sản. Có người đi đến tự tử. Lại còn ‘chơi hụi’ lừa đảo lẫn nhau. Đánh cá trò chơi thể thao v.v… Tất cả chỉ do muốn làm giầu nhanh chóng, gian xảo… đã đem lại những hậu quả ngược lại: “Của phi nghĩa có giầu đâu…”

Hồi sau năm 1975, khi ở Saigon, tôi có dịp thăm viếng một gia đình quen biết. Gia đình gốc ở miền Bắc Việt Nam và di cư vào miền Nam năm 1954, cư ngụ tại vùng ven Saigon. Trong câu chuyện thân mật, ông cụ có kể cho tôi câu chuyện “Làm Giầu” của gia đình cụ như sau: Khi còn ở ngoài Bắc, gia đình cụ làm ăn giầu có và tích trữ của cải bằng cách gói các giấy bạc “Đông Dương” và giấu vào các nơi kín đáo trong nhà mà chỉ có hai cụ biết (lúc đó ngân hàng còn chưa thịnh hành). Chẳng may một hôm vào tháng năm, đang mùa gặt hái và trời rất nóng, cả gia đình đi làm ngoài đồng, người nhà nấu ăn làm cháy nhà, thế là cháy hết cả các gói tiền dành dụm được. Rồi gia đình lại lo làm giầu và lại trở nên giàu có. Rút kinh nghiệm, các cụ mua vàng và chôn dấu ở các nơi trong nhà, nhưng người nhà biết được , đào lấy mất. Sau đó, hai cụ tính kỹ hơn, lúc nào có tiến đều bỏ ra để mua gỗ qúy như gỗ lim, gỗ gụ… và ngâm xuống ao để sau này làm nhà cho các con khi khôn lớn lập gia đình thì có nhà ở. Như vậy là chắc ăn, chẳng lo bị cháy, chẳng lo bị mất trộm. Nhưng đến năm 1954, bị nhà nước Cộng Sản tịch thu hết. Thế là “tay trắng lại hoàn trắng tay…” Chạy được vào miền Nam, lại lo làm giầu, và của cải tích trữ được đều để vào Ngân Hàng, như vậy chẳng còn gì mất mát, lại có lời thêm! Nhưng đâu có ngờ, năm 1975, Cộng Sản tràn vào miền Nam và tịch thu các ngân hàng; tiếp theo là mấy đợt đổi tiền liên tiếp… Thế là lại “trắng tay.” Câu chuyện của các cụ kể đến đó là hết… Nhưng “câu chuyện làm giàu” chưa hết… Con cháu các cụ chạy được sang Hoa Kỳ, lại cũng lo làm giàu, và lo gửi vàng bạc, qúy kim vào các ‘hộp an toàn’ ở ngân hàng Key Bank ở một thành phố vùng Tây Bắc Hoa Kỳ. Nhiều người gửi như vậy, vì không muốn để số tiền lớn trong chương mục ngân hàng vì lý do riêng, hoặc vì số tiền do làm ăn bất chính, hoặc gian lận trợ cấp… sợ Sở Thuế Vụ nhòm ngó… Chẳng may vào khoảng năm 1997, vào dịp cuối tuần nghỉ Lễ Lao Động, những kẻ gian manh, dùng khoan điện, khoan một lỗ ở tầng trên xuống ngay chỗ để các ‘hộp an toàn’; rồi khoan các hộp ra và lấy đi nhiều qúy kim của nhiều người, trong số đó có con cháu của các cụ. Thế là con cháu các cụ lại đau đớn vì bao của cải tan biến mất. “Ôi của cải chóng qua ở đời này làm bao người gặp bao ưu phiền…”

Chúng ta thường quá lo làm giầu để của cải, cơ nghiệp cho con cháu. Nhưng chính của cải đó nhiều khi làm hư con cháu. Dựa vào tài sản ông bà cha mẹ để lại, con cháu đâm ra lười biếng, không chịu học hành, không chịu siêng năng làm việc. “Nhàn cư vi bất thiện,” chúng sống ăn chơi trác táng đi đến chỗ thân tàn ma dại, tài sản tiêu tan. Đúng là thương con cháu, nhưng là “thương hại!”… thương mà hóa ra hại chúng! Người Hoa Kỳ huấn luyện cho con cái biết sống tự lập ngay khi còn nhỏ. Những người giầu có thường dành nhiều của cải để giúp các hoạt động văn hóa, từ thiện, tôn giáo… Họ chỉ giúp con cái cho đến khi đủ 18 tuổi. Khi đủ 18 tuổi các em thích làm việc để sống tự lập bằng bàn tay, khối óc của mình. Các em thường vừa đi học, vừa đi làm. Ít người muốn sống dựa vào cha mẹ hoặc trợ cấp xã hội.

Có lần tôi nghe một ông kể chuyện về việc giúp mấy đứa cháu ở Việt Nam. Nhưng sau này khi có dịp về thăm họ hàng ở Việt Nam, mới thấy dại. Vừa mất tiền vừa làm hư các em. Các em này chỉ sống ăn chơi dựa vào số tiền ông gởi về, không lo học hành, không lo làm ăn, chẳng có nghề nghiệp gì để sống tự lập… chỉ khôn khéo tạo ra các mánh lới để xin tiền từ nước ngoài gởi về.

Mỗi người chúng ta đều phải lo ‘làm giầu’, phải lo tăng gia sản xuất để xây dựng và phát triển thế giới mà Chúa đã dựng nên và ban cho nhân loại để phát triển mãi mãi về mọi phương diện ( Xin đọc chương đầu sách Sáng Thế). Chúng ta phải lo ‘làm giầu’ để xây dựng bản thân, gia đình và xã hội.

Nhưng…

Hãy làm giầu một cách lương thiện. Không buôn bán gian lận. Không bóc lột sức lao động của người làm công. Không gian lận trợ cấp xã hội. Không làm giầu bằng buôn bán thuốc phiện để gây bao tệ nạn xã hội. Không làm giầu bằng ham mê cờ bạc… “Của phi nghĩa có giầu đâu…”
(Xin doc: Lc 12, 13…1 Tm. 6, 9…17…)

Chúng ta phải siêng năng làm việc, nhưng cũng biết dành thời giờ để nghỉ ngơi, để chia sẻ tình thương giữa vợ chồng, giữa cha mẹ và con cái. Có những gia đình quá lo làm giầu đến khi có tiền bạc thì ‘tình yêu đổ vỡ’, gia đình ly tán. Hoặc không để giờ săn sóc con cái, đến khi chúng hư hỏng mới ân hận không kịp.

Chúng ta cũng phải dành thời giờ để lo cho đời sống tinh thần. Con người khác con vật, vì vừa có xác, vừa có hồn. Vừa có đời sống vật chất, vừa có đời sống thiêng liêng. Vừa có đời sống gia đình, vừa có đời sống xã hội. Do đó, chúng ta cũng phải chu toàn bổn phận thờ phượng Chúa, thăm viếng những người gặp hoạn nạn, những người đau ốm. Tham gia các sinh hoạt của cộng đoàn , gia nhập các hội đoàn, ca đoàn. Tham dự các lớp học về Kinh thánh, tham dự các dịp nhà thờ tổ chức tĩnh tâm, nhất là vào Mùa Chay và Mùa Vọng để chuẩn bị Đại Lễ Phục Sinh và Giáng Sinh, và để canh tân bản thân và gia đình, thăng tiến hôn nhân và giáo dục con cái.

Khi có của cải, chúng ta hãy biết ‘trả lại Chúa những gì Chúa đã ban cho chúng ta,’ bằng cách giúp đỡ những người nghèo khó, các công cuộc truyền giáo, xã hội và văn hóa. “Tôi biết lấy gì để trả lại cho Chúa những gì Chúa đã ban cho tôi…”(Xin đọc Mt. 19, 1…).

Chính ‘của cải’ làm thăng tiến con người và thế giới. Nhưng cũng chính của cải có thể làm băng hoại lương tâm con người, lương tâm chức nghiệp, băng hoại gia đình, xã hội. “Chúng ta hãy biết dùng của cải chóng qua mà mua lấy Nước Trời”(Lc 12, 33; Mt. 6,16) để khi nhắm mắt lìa đời, chúng ta được an tâm trở về với Chúa là Cha chúng ta. Lúc đó bỏ lại mọi sự, mọi của cải trần gian, chúng ta có thể nở một nụ cười để từ biệt thế giới này, và Chúa cũng mỉm cười để đón chúng ta vào Nước Hằng Sống, và ngài có thể nói với chúng ta “Con hãy vào dự phần thưởng Nước Trời, vì xưa Cha đói, con đã cho ăn… Cha khát, con đã cho Cha uống…” (Xin đọc Phúc Âm Matthêu 25, 31-46).

TRÁCH NHIỆM LUÂN LÝ TRONG ĐỜI SỐNG HÔN NHÂN VÀ GIA ĐÌNH



Linh Mục Trần Mạnh Hùng C.SsR., S.T.D
Gần đây tại một số các quốc gia, đặc biệt là các nước phương Tây, tỷ dụ như Anh, Mỹ, Gia Nã Đại, Tây Ban Nha,
[1] một số các phong trào của các nhóm đồng tính luyến ái đã vận động và đòi Quốc Hội chấp nhận quyền được kết hôn của những người cùng phái, gồm cả nam lẫn nữ, (same-sex marriage) và hợp thức hoá hôn nhân của họ, để họ cũng được hưởng quyền lợi như những cặp hôn nhân khác. Trước sức ép của việc hợp thức hoá hôn nhân cùng phái và sự kiện ly dị mỗi ngày một gia tăng,[2] khái niệm truyền thống về hôn nhân và giá trị gia đình dường như không còn được rõ ràng đối với một số đông trong anh chị em chúng ta. Lẽ đó, người viết xin mạo muội được chia sẻ một vài suy tư và cảm nghĩ của mình về trách nhiệm luân lý trong đời sống hôn nhân và gia đình đối với thời đại mà chúng ta đang sống.

I. TÌNH YÊU HÔN NHÂN ĐANG BỊ ĐE DỌA.
Đức cố thánh cha Gioan Phaolô II, nhân dịp viếng thăm Mexico tháng 5.1990 đã nói về gia đình như sau: "Tình yêu trong thế giới ngày nay đang bị đe dọa bằng nhiều cách và tình yêu gia đình đang bị lu mờ dần dần." Để điều chỉnh lại tình trạng này, Ngài nói đến sự cao cả và trách nhiệm của gia đình. Gia đình là một cộng đồng đầu tiên của sự sống và tình yêu. Gia đình là một môi trường đầu tiên nơi con người học yêu mến và cảm thấy được mến yêu. Không những bởi người khác mà còn bởi chính Thiên Chúa nữa. ĐTC kêu gọi như sau: "Vì thế, hỡi các cha mẹ Công Giáo, bổn phận của anh chị em là xây dựng và gìn giữ tổ ấm này, trong đó con cái anh chị em được sinh ra và lớn lên trong phẩm giá làm con T.C. Nhưng tình yêu của anh chị em chỉ có thể nói về T.C cho con cái của anh chị em, nếu trước hết anh chị em được sống trong sự thánh thiện và trong việc tận hiến hoàn toàn cho nhau trong hôn nhân."
Do đó, mục đích của bài viết này nhằm đưa ra một vài yếu tố cơ bản giúp chúng ta có thể thực hiện và xây dựng một mái ấm gia đình Kitô Giáo, thể theo như những gì mà Vị Cha chung của chúng ta, Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, đã mời gọi.

II. TRÁCH NHIỆM LUÂN LÝ TRONG HÔN NHÂN
1) Thời gian đính hôn.
Thông thường thì việc chuẩn bị cho hôn nhân được diễn ra, sau thời gian mà hai anh chị đã quen nhau và đã trở nên thân thiết. Sau thời gian này, nếu được tiếp tục, họ sẽ đi đến thời kỳđính hôn. Cái động lực chính để đưa hai tâm hồn đến với nhau, trong nhiều trường hợp, đó chính là tình yêu mà họ đã cảm nghiệm được từ nơi nhau. Người thanh niên kia vàcô thiếu nữ nọ tự khám phá ra những nét độc đáo nơi đối tượng của mình, mà thiết tưởng người ngoài cuộc có thể không nhìn thấy, và điều đó khiến cho cả hai người cảm thấy họ thực sự thuộc về nhau. Có thể trong một vài trường hợp khác, cái động lực chính trong việc chọn lựa cho mình một người bạn đời, lại là những yếu tố có tính thực tiễn và do bởi lý luận tự nhiên, tỷ dụ như cùng một nghề nghiệp hay cùng chung một sở thích. Nhưng cũng có trường hợp, tuy chỉ mới gặp nhau đôi ba lần mà cả hai anh chị đã yêu nhau ngay lập tức. Đó là một sự kiện mà ta hay đề cập đến gọi là "tiếng sét của ái tình", nhưng dầu sao đi chăng nữa, thì chúng ta cũng không nên loại trừ vai trò của lý trí và tiếng nói của lương tâm trong việc chọn lựa người bạn đời cho chính mình. Vì đôi khi yêu quá cũng có thể hóa dại.
Người bạn đường tương lai phải có trách nhiệm xem xét và tìm hiểu coi đối tượng và mình có thể hoà hợp với nhau hay không? Và có sẵn sàng chia sẻ vơí nhau những khó khăn để cùng nhau xây dựng hạnh phúc lứa đôi cho bền lâu. Đây thiết nghĩ là công việc của thời gian đính hôn.

2) Ý nghĩa của giai đoạn đính hôn.
Thời gian đính hôn là một cơ hội thuận tiện, cho phép cả hai tìm hiểu lẫn nhau để xem tình yêu của mình có được đặt trên một nền tảng vững chắc hay không? Trong giai đoạn này, họ có thể có những tranh luận hoặc bất đồng ý kiến với nhau trong khi thảo luận hay nói chuyện. Họ có thể dò xét những sở thích của nhau, tìm hiểu những ưu khuyết điểm của nhau và giúp nhau vượt qua những tính hư nết xấu nếu có. Dần dà như thế, họ có thể hiểu rõ hơn về đối tượng của chính mình để có một cái nhìn trung thực và chuẩn xác hơn. Và hy vọng với những chiều hướng như thế, sau này họ sẽ khắc phục được những khó khăn khi về chung sống với nhau với tư cách là vợ chồng.
Có thể nói cái điểm then chốt hay cơ bản, trong thời kỳ đính hôn là thời gian để cả hai bên xem xét lẫn nhau. Và để tránh tình trạng ngộ nhận về đối tượng của mình, thì chúng ta cần có một thời gian tương đối kha khá, có thể là 6 tháng trở lên. Kẻo sau này, khi lấy nhau về, lại có người than rằng: "Phải hồi đó, con biết "ảnh" như dzậy thì con đâu có lấy"… Tính hấp tấp, vội vàng thường hay dẫn đến sự ngộ nhận - "dục tốc bất đạt" - người xưa vẫn nói thế. Nhưng ngược lại, cũng không nên kéo dài quá, tỉ dụ như đã đính hôn cả hơn hai năm mà vẫn chưa thấy cưới, như vậy nó cũng đâm ra thất lợi. Người con gái họ cũng chỉ có một thời mà thôi!
Người trẻ hôm nay, có rất nhiều tự do trong việc chọn lựa cho mình một người bạn đời, so với bậc cha mẹ thuở xưa. Nhưng điều ấy cũng kèm theo sự gia tăng về trách nhiệm cá nhân. Nói một cách chung, thì giới trẻ hôm nay bước vào ngưỡng cửa hôn nhân muộn hơn, so với thời ông bà của chúng ta trước đây.
[3] Điều ấy, nhìn với một khía cạnh tích cực thì nó có thể diễn tả sự trưởng thành trong cái quyết định của chính họ. Tuy vậy, người trẻ hôm nay cũng gặp rất nhiều khó khăn đang khi bước vào đời sống hôn nhân. Họ bị ảnh hưởng bởi những trào lưu tư tưởng hiện đại, coi nhẹ cái giá trị của đời sống gia đình và định chế hôn nhân. Có một số các bạn trẻ quan niệm như sau: Nếu thích thì ở với nhau, còn không thích nữa thì ra toà ly dị, rồi đường ai nấy đi, như vậy là êm xuôi, không phiền toái gì đến ai cả. Quan niệm ấy đặt giá trị hôn nhân như là một "hợp đồng" giữa hai người, mất đi cái ý nghĩa của hôn ước hay giao ước, và mất đi cái giá trị của sự bất khả phân ly trong định chế hôn nhân. Điều này xảy ra rất nhiều ở các nước Tây phương, vì lẽ đó mà con số ly dị của họ lên rất cao. Một vài tỷ dụ để dẫn chứng.
· Tại nước Ý Đại Lợi, theo con số thống kê của Học Viện Quốc Gia cho biết thì có sự gia tăng về mức độ ly dị hiện nay. Họ cho biết cứ 100 đôi hôn phối thì tỷ lệ ly thân là 23.5%. Trong số này có 12.3% sẽ ly dị chính thức. Theo bài viết được đăng tải trên nhật báo La Repubblica phát hành ngày 20.10.2001, thì con số ly dị hiện nay tại Ý gia tăng gấp 3 lần trong những năm gần đây.
· Tại Anh Quốc, theo tờ báo The Time ra ngày 22.8.2001, thì hiện nay đang có một hiện tượng đáng chú ý, đó là con số ly dị đang gia tăng đối với những cặp vợ chồng mà hôn nhân được thực hiện lần thứ hai. Theo thống kê cho biết thì có 18.000 đôi vợ chồng ly dị vào năm 1981 và đến năm 1999 thì có 28.000. Như vậy chỉ trong có 8 năm, con số đã nhảy vọt hơn lên 10.000.
· Tại nước Úc Đại Lợi, theo nhật báo The Age xuất bản tại thành phố Melbourne, phát hành ngày 25.10.2001, thì cứ 3 đôi hôn phối, có 1 đôi sẽ ly dị và con số này còn gia tăng.

Từ đó chúng ta có thể suy ra ảnh hưởng của ý thức hệ rất quan trọng. Tôi rất thích cái câu của Steven Biko, một nhà đấu tranh cho nhân quyền ở Nam Phi trong gian đoạn kỳ thị chủng tộc, giữa người da trắng và người da đen tại đây. Anh ta nói như thế này: "nếu bạn muốn cải tổ xã hội, bạn trước tiên, phải thay đổi cái não trạng của họ." Đời sống hôn nhân sẽ bị ảnh hưởng rất lớn - điều này có thể xấu hoặc tốt - tuỳ theo cái nhìn của mỗi người chúng ta và những giá trị mà chúng ta gán đặt cho nó.
Lẽ đó, mà tôi thiết nghĩ, anh chị em chúng ta, những nhà lãnh đạo tinh thần, chúng ta có một trọng trách rất lớn trong việc bảo tồn, duy trì và phát triển những giá trị đặc biệt trong đời sống hôn nhân Công Giáo. Chúng ta và những người tín hữu trong cộng đoàn của chúng ta phải ra sức tìm cách, hầu đề ra những phương thế hữu hiệu nhằm giúp đỡ và hướng dẫn người trẻ hôm nay, để họ có cơ hội tìm hiểu và khám phá ra cho chính mình những giá trị tốt đẹp và độc đáo trong đời sống gia đình; nhờ đó, họ được am hiểu một cách tường tận thế nào là đời sống hôn nhân. Điều này có thể thực hiện cách hữu hiệu qua các khoá dự bị hôn nhân, nếu chúng ta tổ chức cho đến nơi, đến chốn. Đặc biệt là tại những nơi mà từ xưa đến nay, chúng ta đã có một truyền thống tốt đẹp về các lớp dự bị hôn nhân, có lẽ lúc này chúng ta cần đẩy mạnh và thăng tiến nó để cho nó được hoàn chỉnh hơn.
Theo nhận xét chung, có tính cách mục vụ, thì những người trẻ sắp sửa bước vào đời sống hôn nhân, nếu họ bằng lòng chịu khó chuẩn bị cho mình một cách tỉ mỉ bằng việc tham dự học hỏi cho đến nơi, đến chốn, các lớp dự bị về hôn nhân, thì họ sẽ có nhiều điều kiện và cơ hội hơn, để xây dựng mái ấm gia đình được bền lâu, và họ sẽ sống hạnh phúc với nhau hơn, là những anh chị em không có tham gia các lớp dự bị hôn nhân. Nói như vậy, cũng không có nghĩa là, hễ ai đi học lớp dự bị hôn nhân thì đều có hy vọng là đời sống lứa đôi của mình sẽ được vững chắc. Vì có nhiều người đến tham dự lớp dự bị hôn nhân với một tính cách miễn cưỡng, bất đặng đừng, chứ cũng chả mấy gì là tha thiết cho lắm, miễn sao cho nó xong, và hoàn tất những thủ tục cần thiết để cha xứ cử hành thánh lễ hôn phối là kể như hoàn tất.
Nói tóm lại, các khóa dự bị hôn nhân là điều tối cần thiết cho tất cả những ai muốn bước vào đời sống gia đình, muốn xây dựng một cuộc hôn nhân hạnh phúc. Thật khó có thể hiểu được, khi có những người chỉ muốn lái xe hơi, nhưng không bao giờ chịu khó học lái, kết quả là họ đã gây ra tai nạn, và thương tổn đến tính mạng, trước tiên là chính mình, sau đó là những người khác.

III. BẢN CHẤT CỦA HÔN NHÂN
Trong đời sống hôn nhân, người nam và người nữ cả hai hợp nhất với nhau trong cộng đồng yêu thương vợ chồng, tạo cho nhau một mái ấm và sự hỗ tương về mặt an toàn; họ đáp ứng và thỏa mãn cho nhau những ước muốn về phương diện thể xác trong yêu thương, từ đó phát sinh ra con cái. Họ cũng lãnh nhận và đảm nhiệm vai trò giáo dục con cái. Quyền lập gia đình là một trong những quyền căn bản của con người, cũng như quyền bình đẳng giữa những người phối ngẫu trong đời sống gia đình đã được liệt kê trong bản tuyên ngôn về nhân quyền của Liên Hiệp Quốc. Con người (nam lẫn nữ) khi đến tuổi trưởng thành, không bị giới hạn bởi chủng tộc, quốc gia hay tôn giáo, đều có quyền (được lập gia đình) đi đến hôn nhân và xây dựng mái ấm gia đình (điều 16).

1) Những mục đích của hôn nhân.
Mục đích của hôn nhân thì nó đi liền với mục đích của tình yêu tình dục, nhưng chúng lại không nhất thiết là đồng nhất. Đời sống hôn nhân không chỉ có mục đích duy nhất là sinh sản con cái, như vẫn thường được quan niệm trước đây,
[4] nhưng nó còn có những mục đích khác, chẳng hạn như việc giáo dục con cái. Một trong những mục đích khác của đời sống hôn nhân là sự tương trợ lẫn nhau trong một cách thức rất cụ thể, được thể hiện ngang qua cuộc sống hằng ngày, ví dụ như chăm lo săn sóc lẫn nhau, đặc biệt khi đau yếu, đây cũng là một hình thức biểu lộ sự yêu thương của tình nghĩa vợ chồng, song song với việc chăn gối. Nói cách khác, đời sống và mục đích của hôn nhân không chỉ hạn hẹp trong việc sinh sản và các hành động hợp giao.

1.1. Sinh sản và giáo dục con cái.
Một trong những mục đích cơ bản của đời sống vợ chồng là việc sinh sản con cái: "Hôn nhân và tình yêu vợ chồng, tự bản tính qui hướng về sự sinh sản và giáo dục con cái. Con cái là ân huệ cao quí nhất của hôn nhân và là sự đóng góp lớn lao kiến tạo hạnh phúc của cha me…” Khi nói như vậy, không có nghĩa là Công Đồng Vaticanô II, xem thường hay coi nhẹ những giá trị khác trong đời sống hôn nhân. Thực ra, hai mục đích này (và nhiều mục đích khác để phát triển nhân phẩm về mọi phương diện) đều là chính yếu, nghĩa là hôn nhân đòi hỏi quyền lợi để hai bên (vợ chồng) nhờ nhau mà đạt tới mục đích ấy. Lập giao ước hôn nhân, nhưng loại trừ quyền lợi để sinh sản con cái thật là vô lý và giao ước không thành. Điều này muốn ám chỉ đến những đôi vợ chồng lấy nhau chỉ để muốn hưởng thụ nhục-cảm, chứ không màng gì đến việc sinh con cái. Lẽ đó, dưới cái nhìn của Công Đồng thì những đôi hôn nhân như vậy không thành sự, xét về phương diện bí tích.
Do đó, việc thể hiện đích thực tình yêu vợ chồng cũng như toàn thể tổ chức đời sống gia đình phát sinh từ việc sinh sản con cái, đều nhằm giúp đôi vợ chồng can đảm sẵn sàng cộng tác với tình yêu của Đấng Tạo Hoá và Cứu Thế, mặc dù không loại bỏ các mục đích khác của hôn nhân (như đã giải thích ở trên). Nhờ đời sống lứa đôi, Thiên Chúa làm cho gia đình Ngài càng ngày càng bành tướng và phong phú hơn.
Bổn phận truyền sinh và giáo dục con cái phải được coi là sứ mệnh riêng biệt của vợ chồng. Trong khi thi hành bổn phận ấy, họ biết rằng mình cộng tác với tình yêu của Thiên Chúa Tạo Hoá và như thể trở thành những kẻ diễn đạt tình yêu của Ngài. Bởi vậy, họ sẽ chu toàn bổn phận của mình với trách nhiệm là bậc cha mẹ và là người Ki-tô hữu.
Nhằm chú giải ước muốn của Đấng Tạo Hoá, Thánh Kinh đã chí lý khi coi việc lưu sinh hậu thế là một mục đích thiết yếu trong đời sống hôn nhân. Lời chúc lành của Thiên Chúa cho cặp vợ chồng đầu tiên của nhân loại trong Sách Sáng Thế ký "Hãy sinh sôi nảy nở thật nhiều, cho đầy mặt đất" (St 1, 28), đã ban cho đời sống lứa đôi khả năng sinh sản ở tất cả mọi thời và mọi nơi. Lời chúc phúc này của Thiên Chúa dành cho đời sống hôn nhân được thể hiện nơi niềm tin của dân Do-thái rằng: con cái là ân huệ của Thiên Chúa. Và trong cái kế hoạch của Thiên Chúa đối với đời sống gia đình, là họ phải sinh sôi nảy nở nhằm bành trướng nhân loại.
Mặc dầu, một số gia đình hôm nay đã giới hạn số con mà họ sẽ có, so với thời gian trước đây, vì những lý do chính đáng và dẫu cho chúng ta hiện tại, đang nhấn mạnh nhiều đến khía cạnh tình yêu tương-trợ và sự ân cần nâng đỡ lẫn nhau trong đời sống lứa đôi hơn, so với quá khứ, thì một số đông vợ chồng vẫn tiếp tục khao khát và ước mong có con. Điều này được thể hiện qua các cặp vợ chồng hiếm muộn về việc sinh con. Họ đã nổ lực và đã tìm đủ phương pháp chữa trị hầu có thể thụ thai. Và ngay cả những cách thức trên đã không thành công, thì họ đã nhận một con nuôi. Điều này là một chứng cớ hiển nhiên, có sức thuyết phục chúng ta về sự thật rằng: định chế hôn nhân và tình dục tự bản chất của nó qui hướng về việc sinh sản con cái.
Định chế hôn nhân và mái ấm gia đình tạo nên những điều kiện hay môi trường thuận lợi cho việc sinh sản con cái và giáo dục chúng. Quả thực, đời sống hôn nhân và gia đình chuẩn bị một bầu khí cần thiết cho tình yêu vợ chồng và hoa trái của tình yêu đó là những đứa con. Vì thế các quan hệ về tình dục chỉ hợp pháp trong lãnh vực đời sống hôn nhân.

1.2. Sự nâng đỡ lẫn nhau và lòng thủy chung trong tình yêu.
Một mục đích quan trọng khác được đạt đến ngang qua giao ước hôn nhân, đó chính là sự giúp đỡ lẫn nhau và lòng thủy chung trong tình yêu của đời sống vợ chồng. Người xưa vẫn nói: "dấu ấn của tình yêu là lòng chung thủy." Trong hôn nhân, người nam cũng như người nữ: "phục vụ và giúp đỡ lẫn nhau bằng sự kết hợp mật thiết trong con người và hành động của họ, cảm nghiệm và hiểu được sự hiệp nhất với nhau mỗi ngày mỗi đầy đủ hơn. Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau, cũng như lợi ích của con cái, buộc vợ chồng phải trung tín và đòi hỏi kết hợp với nhau bất khả phân ly (Gaudium et Spes, 48). Trong giao ước hôn nhân, người nam và người nữ với những năng khiếu và khả năng khác biệt, bổ túc lẫn nhau một cách hết sức hoàn hảo. Nói cách khác, họ bổ sung cho những khiếm khuyết của nhau.
Chính mục đích này mà trong đời sống hôn nhân đã được Thánh Kinh trong Sáng Thế Ký xác định và thuật lại, nó xảy ra trong vườn địa đàng. Lý do tại sao Thiên Chúa phú ban một người nội trợ và cũng là bạn đường cho người đàn ông, là để nâng đỡ lẫn nhau và để trở nên bạn đồng hành. "Người nam ở một mình không tốt. Ta sẽ làm cho nó một người trợ tá tương xứng với nó" (St 2,18). Vì vậy, Thiên Chúa đã dựng nên một người nữ. Nhìn thấy người phụ nữ, Adam đã nói: "Phen này, đây là xương bởi xương tôi, thịt bởi thịt tôi!" Và Thánh Kinh đã kết luận: "Bởi thế, người đàn ông lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai thành một xương một thịt" (St 1, 23tt). Cách diễn tả "một xương một thịt" xác định một cách hết sức thực tiễn và rõ rệt sự trọn vẹn và giúp đỡ lẫn nhau, giữa người nam và người nữ trong đời sống hôn nhân. Điều đó ngụ ý rằng hôn nhân không chỉ là một sự ràng buộc, nhưng nó là một thực thể mới, hay là một đời sống mới, một cuộc sống chung với nhau, đã được cấu tạo và trong thực tế chúng ta không bao giờ có thể tháo gỡ.
Sự giúp đỡ lẫn nhau giữa vợ chồng trong đời sống hôn nhân, không chỉ trong những khi vui tươi phấn khởi hay là hạnh phúc ngập tràn, mà ngay cả những khi gặp khốn khó, hoạn nạn hay ưu sầu. Nói tóm lại, đã là vợ chồng thì chúng ta phải chung lưng đấu cật, cùng chia sẻ với nhau tất cả mọi ưu tư lo lắng trong đời sống lứa đôi. Sự so sánh giữa hôn nhân loài người và sự kết hiệp mật thiết giữa Chúa Giê-su và Giáo Hội được mô tả trong thư gửi tín hữu Ê-phê-sô (Ep 5,21-33). Đó là điều thánh Phaolô muốn chúng ta nắm giữ khi ngài nói: Hỡi các người chồng, hãy yêu mến vợ mình như Chúa Kitô đã yêu thương Giáo Hội, và đã nộp mình vì Giáo Hội, để thánh hóa Giáo Hội (Ep 5,25-26), và thánh nhân cũng không quên nhấn mạnh rằng: "này người nam sẽ rời bỏ cha mẹ mình để gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ làm thành một xác thịt duy nhất. Mầu nhiệm này thật lớn lao: tôi muốn ám chỉ về Chúa Kitô và Giáo Hội." (Ep 5,31-32). Xem Sách Giáo Lý Công Giáo (GLCG), số 1617.

Điều mà tôi vừa trích dẫn ở trên, nhằm mục đích nói lên một thực tại trong đời sống hôn nhân, đó là ý nghĩa của sự khổ đau, được coi như thập giá. Quả thực, trong bất kỳ bậc sống nào, tu trì hay lập gia đình, chúng ta đều có thập giá mà Chúa trao gởi cho chúng ta. Điều ấy không có nghĩa là chúng ta dơ tay đầu hàng khi đối diện với những khổ đau, thất bại hoặc điều bất hạnh xảy đến. Là Ki-tô hữu chúng ta được kêu mời để không ngừng nổ lực đem hết mọi cố gắng hầu bảo vệ và duy trì hạnh phúc gia đình, ngay cả những khi gặp trục trặc. Đôi khi, chúng ta cũng cần nhắc nhở chính mình là những bất hạnh ấy cũng có thể là những cơ may cho chúng ta, nhằm điều chỉnh một vài sự sai trái của bản thân và cũng có thể trở thành trường dạy của tình yêu, giúp ta khám phá ra những giá trị cao hơn của đời sống vợ chồng.

2) Sự bất khả phân ly trong đời sống vợ chồng.
Một số xã hội trong thế giới ngày nay đã cho phép ly dị trong một vài trường hợp, khi có sự bất tương xứng giữa những cặp vợ chồng. Trong số những nguyên nhân và căn cớ làm nền tảng cho việc ly dị được công nhận, đó là vấn đề ngoại tình, đặc biệt là điều ấy nếu được gây ra do người vợ. Một nguyên nhân nữa gây nên sự ly dị, đó là tình trạng hiếm muộn không thể sinh con do người vợ, một giải pháp được đưa ra cho vấn nạn trên, là cho phép người đàn ông được cưới vợ bé. Tuy nhiên, chúng ta cũng cần ghi nhận rằng: phần đông các quốc gia không coi việc ly dị là một giải pháp lý tưởng. Vì thế, việc ly dị tuy được chấp nhận ở một vài xã hội, nhưng điều đó không có nghĩa là tất cả mọi nơi đều nhất trí và ủng hộ lập trường đó.
Vấn đề ly dị, trong những thập niên gần đây đã trở thành một vấn nạn khá thương đau. Cấp độ ly dị đã gia tăng một cách hết sức nhanh chóng.
[5] Nhiều lý do được đưa ra hay được vịn tới, thêm vào số những lý do đã được nêu trên. Sự tự do phóng túng trong vấn đề tình dục đã được chấp nhận cách rộng rãi hơn trước. Trong thế giới kỹ nghệ hoá và với những thành phố văn minh hiện đại ngày nay, con người không còn chung sống như một đại gia đình, trong đó gồm có ông bà nội, ngoại, hay cô chú, dì dượng… v.v.., trái lại, họ sống như kiểu gia đình hạt nhân hay còn gọi là tiểu gia đình: trong đó chỉ có ba mẹ và con cái. Điều này, một mặt, đánh mất đi sự nâng đỡ hữu hiệu của những thân nhân ruột thịt, bà con trong họ hàng đối với vợ chồng. Đàng khác, đối với những cặp vợ chồng mà họ phải sống xa nhau tạm thời, vì công ăn việc làm. Trong những hoàn cảnh như vậy sẽ gia tăng cái nhu cầu tìm cho mình một người "bạn đường" khác. Thêm vào đó, con người ngày hôm nay dường như sống lâu hơn, đặc biệt trong những quốc gia phát triển và văn minh so với ba hoặc bốn chục năm trước đây. Trong quá khứ, cái chết của hai vợ chồng sẽ kết thúc hôn nhân, trước cái thời điểm mà họ có thể cứu xét đến việc ly dị. Trái lại, ngày hôm nay, nếu có sự ly thân, thì điều ấy quả là một gánh nặng đau khổ, bởi vì sự sống của con người hôm nay kéo dài hơn. Nhiều đạo luật cho phép việc ly dị, mà chúng ta thấy trong thế giới ngày nay tại một vài quốc gia, chẳng qua, đó cũng là một phản ảnh của thực tế về những sự kiện thay đổi trong cuộc sống con người; nhưng cùng lúc điều ấy, cũng là một lời mời hấp dẫn và dễ dàng bị cám dỗ. Nó đưa đến cho chúng ta một giải pháp rất thuận tiện cho những khó khăn mà chúng ta đang gặp trong đời sống hôn nhân, nhất là khi cơm không ngon, canh không ngọt.
Một mặt khác, điều này cũng ghi nhận rằng, theo con số thống kê cho biết, một tỷ lệ khá đáng kể của nhiều cặp vợ chồng đã ly dị, họ đã công khai thú nhận rằng: hôn nhân của họ có thể được cứu vãn. Dám thú nhận điều này, quả thực là một hành động khiêm tốn và là một lời khuyến khích thật quí báu cho những cặp vợ chồng khác khi họ đang gặp khó khăn.
[6]

VI. QUAN ĐIỂM CỦA THÁNH KINH ĐỐI VỚI VIỆC LY DỊ.
1. Cựu Ước
Thái độ của Cựu Ước đối với việc ly dị thì đồng quan điểm với những dữ kiện mà người ta tìm thấy dựa vào khoa nhân học xã hội (Social Anthropology) . Trong thời Giáo phụ, chỉ có một trường hợp ly dị được nhắc tới: đó là việc Tổ phụ Abraham đuổi nàng thiếp của mình theo yêu cầu của Sarah (St 21, 9-14). Sự việc khước từ một cô vợ nếu không có lý do chính đáng, thì tiền nộp cho phía cô dâu sẽ không được trả lại cho chú rễ, hẵn nhiên, điều này cũng nhằm để ngăn ngừa tình trạng từ chối hôn nhân hay ly dị một cách tự tiện, và bảo vệ quyền lợi của người phụ nữ. Nhưng trong thực tế, hay trên phương diện nguyên tắc, ly dị vẫn có thể xảy ra, và luật lệ của người Do-thái cho phép thực hiện điều ấy và chấp nhận điều đó là hợp pháp. Nếu người đàn ông đã lấy vợ và đã cưới hỏi rồi, mà sau đó vợ không đẹp lòng người ấy nữa, vì người ấy thấy nơi nàng có điều gì chướng, thì sẽ viết cho nàng một chứng thư ly dị, trao tận tay và đuổi ra khỏi nhà (x. Đnl 24,1). Điều nổi bật và đáng chú ý của chứng thư ly dị là người phụ nữ đó được quyền tái giá với một người đàn ông khác mà không phạm tội ngoại tình (x. Đnl 24, 2).
Lý chứng để làm nền tảng cho việc ly dị được mô tả khá chi tiết trong bản văn của sách Đệ Nhị Luật, và đã là nguyên nhân cho những cuộc tranh luận sôi nổi trong giới các luật sĩ. Trong thời buổi Chúa Giê-su, có hai lối giải thích khá quan trọng đối với luật cho phép được ly dị, xuất phát từ hai trường phái.
· Trường phái thứ nhất là của Shammai, có vẻ nhặt nhiệm hơn, chỉ có việc ngoại tình của người vợ thì mới được coi là đủ lý chứng cho việc ly dị.
· Trường phái thứ hai là của Hillel, được đặt trên nền tảng của chương 24, câu 1, trong sách Đệ Nhị Luật, cho rằng bất cứ lý do gì cũng được. Trong số đó, một vài lý do được nhắc tới, tỷ dụ như việc người vợ nấu thức ăn bị cháy, hoặc ngay cả nếu người chồng tìm thấy một người phụ nữ khác đẹp hơn, thì ông ta cũng có quyền ly dị vợ mình để đính hôn với người ấy. Dân chúng thời Chúa Giê-su trong các hội đường ủng hộ lập trường của phái Hillel. Dẫu vậy, việc ly dị cũng đã không xảy ra thường xuyên, chỉ có những kẻ giàu có lợi dụng chuyện này.

Các ngôn sứ, một đàng tỏ ra chấp nhận việc ly dị như một thực tại của hoàn cảnh; nhưng đàng khác, họ nhìn nhận sự bất khả phân ly trong hôn nhân là một lý tưởng. Tuy nhiên, điều rõ nét nhất trong toàn bộ các lời giảng dạy của các ngài về hôn nhân và sự trung tín giữa vợ chồng, thì việc ly dị là điều không thể xảy ra. Sự bất khả phân ly trong đời sống hôn nhân thì cũng giống như cái lý tưởng một vợ một chồng, được các ngôn sứ bao hàm trong lối so sánh của họ, nhằm nói lên mối liên hệ mật thiết của Đức Chúa Yavê và dân Do-thái, tựa như một hôn ước (marriage covenant). Tột đỉnh của lý tưởng hôn nhân được mô tả trong Cựu Ước, qua đoạn sách của ngôn sứ Malachi (2,14-16).
"Bởi Đức Chúa Trời là chứng nhân giữa ngươi và người đàn bà ngươi đã cưới trong tuổi thanh xuân. Chính ngươi đã phản bội nó, mặc dầu nó là bạn đường và là người vợ kết ước với ngươi. Người đã chẳng làm nên một hữu thể duy nhất có xác thịt và Thần Khí đó sao? Vậy hữu thể duy nhất này tìm cái gì? Một dòng dõi của Thiên Chúa. Các ngươi hãy coi chừng và chớ phản bội người đàn bà ngươi đã cưới trong tuổi thanh xuân. Quả thật, Ta ghét việc rẫy vợ, Đức Chúa, Thiên Chúa Ít-ra-en phán."

Cái lý tưởng này cũng được phản ảnh trong đoạn Sách Sáng Thế, nói về việc Thiên Chúa tạo dựng người phụ nữ nơi vườn điạ đàng, trong cái khung cảnh mà hôn nhân đầu tiên được mô tả như là chỉ có một vợ và một chồng và hôn nhân có tính cách vĩnh viễn.

2. Tân Ước
Những tranh luận về việc ly dị giữa những người Do-thái với nhau, tạo cơ hội cho Chúa Giê-su trả lời cho vấn đề, và đưa ra cái quan điểm của Ngài một cách công khai, và thẳng thừng lên án cách mạnh mẽ, những sự ươn hèn của các luật sĩ Do-thái và lập trường của chính họ về vấn đề ly dị.
Lời lẽ phát biểu của Ngài được ghi lại trong Tin Mừng của Mát-thê-ô (5,31tt), Lu-ca (16,18) và thư thứ nhất gửi giáo đoàn Côrintô (1Cô-rin-tô 7,10tt). Cũng như trong các cuộc thảo luận được ghi lại do Mác-cô (10,2-12) và Mát-thê-ô (13, 3-9). Trong khi tranh luận với các biệt phái, Chúa Giê-su đã hủy bỏ việc cho phép ly dị theo luật của Mô-sê, điều ấy đã được ban cho dân Do Thái, vì tấm lòng chai đá của họ. Chúa Giê-su đã trưng dẫn hai đoạn Sách Thánh nhằm chống lại và phản đối sự việc Mô-sê đã chuẩn cho dân Do-thái được phép viết chứng thư ly dị. Theo Sách Sáng Thế Ký, phụ nữ được coi như ngang hàng và bình đẳng về nhân-phẩm với nam giới. "Cả nam lẫn nữ Thiên Chúa đã dựng nên họ." (St 1,27) " và cả hai thành một xương một thịt" (St 2,21). Sự hiệp nhất bền vững giữa người nam và người nữ được Đức Ki-tô nói rõ khi nhắc lại ý định "từ nguyên thủy" của Đấng Sáng Tạo. "Họ không còn là hai; nhưng chỉ là một xương một thịt" (Mt 19,6). Lẽ đó, họ không thể phân ly.
Lời Chúa Giê-su tỏ cho biết, Ngài khẳng định từ chối bất cứ trường hợp ly dị nào. Nhưng chẳng phải trong Tin Mừng đã chả cho phép rẫy vợ (ly dị) trong trường hợp ngoại trừ đó sao? sự kiện này đã được hợp thức hoá trong điều khoản phạm tội gian dâm với người khác.
"Còn Thầy, Thầy bảo cho anh em biết, ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ là đẩy vợ tới chỗ ngoại tình; và ai cưới người đàn bà bị rẫy, thì cũng phạm tội ngoại tình" (xem Tin Mừng Mát-thê-ô 5,32).

Và Mát-thê-ô 19,9 " Tôi nói cho các ông biết: Ngoại trừ trường hợp hôn nhân bất hợp pháp, ai rẫy vợ mà cưới vợ khác thì phạm tội ngoại tình".

Phải công tâm mà nói việc chú giải đoạn văn trên với "mệnh đề đặt điều kiện" là một việc khá phức tạp và nhiều khó khăn. Tuy nhiên, điều ấy vẫn không có hiệu lực làm mất đi cái giá trị căn bản mà Chúa Giê-su đã tuyên bố về việc ly dị. Mác-cô, Lu-ca và Phao-lô không hề hay biết về trường hợp ngoại trừ này. Không thể hình dung được là họ đã bỏ sót một tuyên ngôn khá quan trọng như vậy.
Vậy thì chúng ta phải giải thích như thế nào cái điều khoản gian dâm? Nhiều học giả Thánh Kinh đã cố gắng chú giải điều ấy với những lý lẽ khác nhau. Tuy nhiên, có hai giả thuyết đã được đại đa số chấp nhận. Giả thuyết thứ nhất cho rằng từ "Porneia" (nguyên ngữ Hy lạp), trong mệnh đề nhắm tới việc cưới hỏi lẫn nhau giữa những người trong họ hàng thân tộc, điều này đã được cấm đoán trong Cựu Ước (x. Lv 18, 6 tt) và vì thế được coi như là bất hợp pháp, bởi người Do-thái cũng như bởi Giáo Hội thời sơ khai, trong khi điều ấy được coi như là hợp pháp đối với dân ngoại (tỉ dụ đám cưới giữa chú và cháu hoặc giữa anh em họ với nhau). Những cuộc hôn nhân như vậy, sau này có thể bị khám phá ra khi họ nộp đơn xin rửa tội để trở lại đạo, và hôn nhân của họ phải được kết thúc hoặc giải thể. Điều này, tạo nên cái ấn tượng là cho phép ly dị đối với người lương dân, sau này các nhà soạn thảo lại Tin Mừng theo thánh Mát-thê-ô đã nỗ lực cố gắng để đưa ra một giải thích thỏa đáng cho vấn đề nan giải này.
Giả thuyết thứ hai thì cho rằng cái mệnh đề (đặt điều kiện) ấy, mô tả một trường hợp ngoại trừ thật sự đối với việc cấm đoán ly dị. Từ "Porneia" được chuyển ngữ là thông dâm/gian dâm (Fornication) hoặc ngoại tình (Adultery). Lối giải thích này được các nhà chú giải Kinh Thánh của giáo phái Tin Lành và Chính Thống Giáo chấp nhận cách rộng rãi, và cho đến nay thì một số đông các học giả Công Giáo cũng đã chấp nhận. Hầu hết các nhà chú giải Kinh Thánh (trong số đó có cả Công Giáo) hiện nay, có xu hướng chấp nhận trường hợp ngoại lệ cho vấn đề ly dị trong trường hợp người vợ phạm tội ngoại tình.
Nhưng nếu chúng ta đối chiếu với phần chú giải - nằm ở cuối trang - của bản dịch Tân Ước do Ban PhụngVụ Các Giờ Kinh thực hiện, thì chúng ta thấy văn bản được dịch là "ngoại trừ trường hợp HÔN NHÂN BẤT HỢP PHÁP" (Mt 5,32) và cụm từ hôn nhân bất hợp pháp được giải thích như sau: diễn dịch từ Hy lạp "porneia". Theo văn mạch ở đây cũng như ở Mt 19,9 và so với Mc 10,11-12; Lc 16,18; 1Cr 7,10-11, thì Chúa Giê-su thắt chặt lại khoản luật lỏng lẽo của Cựu Ước về ly dị (x. Đnl 24,1-2). Trường hợp ngoại trừ ở đây không phải là ly dị vì ngoại tình (Hy Lạp: moikheia). Porneia cũng không hiểu là gian dâm theo nghĩa thông thường, mà theo luật Do-thái thời xưa. Những cuộc sống chung giữa những người họ hàng với nhau mà Lê-vi 18 kê khai được coi là gian dâm, nghĩa là bất hợp pháp. Có lẽ Mát-thêu muốn đưa về Công Vụ Tông Đồ 15, 29 (cũng từ porneia): các tín hữu gốc ngoại phải tránh kết hôn với người có họ hàng, vì đó trái luật Do-thái, dù rằng theo luật đời, các hôn nhân giữa họ hàng như vậy có thể hợp pháp.
Chúa Giê-su từ chối việc ly dị (đối với giả thuyết thứ hai, nghĩa là được phép ly dị), nếu người vợ phạm tội ngoại tình. Sự kiện Chúa Giêsu phản đối việc ly dị, điều đó được xem như là một biểu lộ của lý tưởng, chứ không phải là luật hoàn toàn có tính cách tuyệt đối. Quan điểm này được ủng hộ dựa vào những chứng cớ tìm thấy nơi đoạn Tin Mừng của Mát-thê-ô 5, 3tt, qua Bài Giảng Trên Núi. Tại đây, chính Chúa Giê-su, trong một diễn đạt khoáng đại đã mời gọi con người đạt tới mức thiện hảo vô song. Nhưng điều ấy không có nghĩa là đặt ra những luật lệ buộc con người phải tuân giữ theo sát bản văn.
Trong Bài Giảng Trên Núi, có rất nhiều lời tuyên bố với tính cách xác quyết. Tuy nhiên, Giáo Hội chỉ coi đó là những lý tưởng chứ không phải là giới luật (ví dụ như những huấn dụ về lời thề hứa, việc bất bạo động, yêu thương kẻ thù và nên hoàn thiện như Thiên Chúa - xem Mt 5, 21-48).
[7] Vì thế, việc Chúa Giê-su khăng khăng phản đối việc bất khả phân ly trong đời sống hôn nhân có thể mang một tính chất giống như vậy, nó chỉ là một lý tưởng mà người ta phải nỗ lực ra sức theo đuổi chứ không hẳn là một lề luật áp chế tất cả mọi người tuân theo, theo nghĩa ngữ của nó.
Nói tóm lại, quan điểm của Chúa Giê-su thì đơn giản: lý tưởng cho các cặp vợ chồng Ki-tô giáo là họ nên trung tín với nhau, cho nên việc ly dị xét ra không cần thiết. Nhưng một mặt khác, Giáo Hội thời tiên khởi, dường như cũng đã xem xét đến những điều kiện thực tiễn của một thế giới bị giới hạn bởi những khiếm khuyết và tội lỗi, nên không thể tránh khỏi những bất trắc xảy ra, cho nên các ngài cũng đã tìm kiếm một giải pháp thích hợp nhằm điều chỉnh sao cho phù hợp với hoàn cảnh thực tại. Nơi đây, ta cũng nên nhắc lại trường hợp ngoại trừ được thánh Phao-lô cho phép, trong trường hợp, một người ngoại giáo mà họ muốn ly dị với người phối ngẫu của họ đã trở thành Ki-tô hữu. Trong trường hợp này, thánh Phao-lô phán quyết như sau: Người tín hữu không bị bó buộc phải duy trì bậc sống độc thân. "Còn với những người khác, thì tôi nói chính tôi chứ không phải Chúa: nếu anh em nào có vợ ngoại đạo mà người này bằng lòng ở với người ấy, thì người ấy đừng rẫy vợ. Người vợ nào có chồng ngoại đạo mà người này bằng lòng ở với người ấy, thì người ấy đừng bỏ chồng. Thật vậy, chồng ngoại đạo được thánh hoá nhờ vợ, và vợ ngoại đạo được thánh hoá nhờ người chồng có đạo. Chẳng vậy, con cái anh em sẽ làm ô uế, trong khi thật ra chúng là thánh. Nếu người ngoại đạo muốn bỏ người kia thì cứ bỏ; trong trường hợp đó, chồng hay vợ có đạo không bị luật hôn nhân ràng buộc: Thiên Chúa đã kêu gọi anh em sống bình an với nhau! Chị là vợ, biết đâu chị chẳng cứu được chồng? Hay anh là chồng, biết đâu anh chẳng cứu được vợ?" (1Cr 7,12-16) .

V. GIÁO HUẤN CỦA HUẤN QUYỀN
Đại đa số các giáo phụ ủng hộ lập trường tuyệt đối bất khả phân ly của hôn nhân. Tuy thế, cũng có một số vị đã bênh vực trường hợp ngoại trừ cho một số trường hợp nan giải. Họ thường xuyên trưng dẫn đoạn văn của Mat-thê-ô 5,32, để ủng hộ cho quan điểm và lập trường của họ.
Thái độ của Huấn Quyền đã được đặc điểm hoá bằng những xác tín không lay chuyển rằng: sự ràng buộc hôn nhân Công Giáo ngang qua bí tích, thì không thể tháo cởi, nó mang tính chất bất khả phân ly. Giáo huấn của các Đức Giáo Hoàng và của Công Đồng chung thì kiên vững và hầu như đồng tâm nhất trí: việc tái hôn hay lập gia đình lại, sau khi đã ly dị là điều không thể được, và không thể chấp nhận, ngoại trừ trong trường hợp đã được tiêu hôn (Annulment), nghĩa là Giáo Hội, qua toà án Hôn Nhân Công Giáo, xác nhận hôn nhân đầu tiên của họ không thành sự.
[8] Giáo Hội Công Giáo hằng lên tiếng bảo vệ sự tuyệt đối bất khả phân ly của hôn nhân, ngay cả khi phải trả một giá rất đắt. Một ví dụ điển hình nổi bật là thái độ khẳng định của hàng phẩm trật thuộc Giáo Hội Công Giáo La Mã đối với vua Henry VIII của Anh quốc, người đã gây nên cuộc ly khai khỏi Giáo Hội Công Giáo La Mã và thành lập Anh Giáo, bởi vì Đức Giáo Hoàng thời bấy giờ đã khước từ thỉnh nguyện thư của ngài nhằm để xin phép giải hôn phối đầu tiên, và cho phép ngài được kết hôn một lần nữa.
Giáo thuyết về việc bất khả phân ly trong hôn nhân Công Giáo được công bố một cách rõ rệt, tỏ tường bởi Công Đồng Trentô. Nhưng có một điểm đáng chú ý là các nghị phụ đã chủ tâm tránh né việc lên án cách thực hành của các Giáo Hội Đông Phương liên quan đến việc ly dị. Theo các giáo hội này thì quan điểm của họ cho rằng: hiệu lực của bí tích hôn phối không có giá trị suốt cả cuộc đời, đối với người phối ngẫu đầu tiên. Tuy vậy, hôn nhân thứ hai chỉ là việc bất đặng đừng phải chấp nhận và cho phép đón nhận Bí tích Hôn phối.
Công Đồng Va-ti-ca-nô II công bố việc bất khả phân ly của hôn nhân, mặc dầu có một số nghị phụ đề nghị cho phép ly dị trong một vài trường hợp nan giải. Sau đây, tôi xin phép trích dẫn một đoạn trong Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay (Gaudium et Spes), số 48, liên quan đến việc bất khả phân ly trong đời sống hôn nhân.
"Như thế, bởi một hành vi nhân linh, trong đó, hai vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau nhờ sự an bài của Thiên Chúa, phát sinh một định chế vững chắc có giá trị trước mặt xã hội nữa. Vì ích lợi của lứa đôi, của con cái và của xã hội, nên sợi dây liên kết thánh thiện này không lệ thuộc sở thích của con người. Chính Thiên Chúa là Đấng tác tạo hôn nhân, phú bẩm những lợi ích và mục tiêu khác… Sự liên kết mật thiết vẫn là sự tự hiến của hai người cho nhau cũng như lợi ích của con cái buộc hai vợ chồng phải hoàn toàn trung tín và đòi họ kết hợp với nhau bất khả phân ly."

Bộ Giáo luật cũng đã diễn giải một cách chi tiết hơn, liên quan đến Bí tích Hôn Nhân Công Giáo, một khi đã được thành sự trọn vẹn bởi hành vi quan hệ vợ chồng, qua việc giao hợp, thì không thể tháo cởi do quyền lực con người, hoặc bất cứ điều gì ngoài sự chết. (x. Sách Giáo luật, số 1141). Tuy nhiên, nếu như Bí tích Hôn nhân chưa thành sự trọn vẹn thì điều ấy có thể cởi tháo, nếu có lý do chính đáng (x. Sách Giáo Luật, số 1142). Thêm vào đó, việc kết hôn hợp pháp giữa những người chưa chịu phép Rửa Tội, tuy rằng hôn nhân ấy đã thành sự trọn vẹn, thì điều ấy vẫn có thể cởi tháo nhằm ủng hộ đức tin theo đặc ân của thánh Phao-lô (x. Sách Giáo Luật, số 1143). Đặc ân này được dựa trên đoạn thánh thư gửi cho tín hữu Côrintô (1Cr 7, 12-16).

VI. NHỮNG LÝ DO CƠ BẢN NHẰM PHẢN ĐỐI VIỆC LY DỊ
Bản văn của Công Đồng Va-ti-ca-nô II liệt kê ba lý do chính nhằm phản đối việc ly dị gồm có: 1) Lợi ích của lứa đôi, 2) của con cái và 3) của xã hội (x. Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay, Gaudium et Spes, số 48). Lý do thứ tư có tính cách thần học, được rút ra từ vai trò của bí tích trong hôn nhân Công Giáo.

1) Ly dị bị phản đối vì lợi ích của đôi vợ chồng.
Việc ly dị sẽ đánh mất đi cái ý nghĩa và mục đích của sự tự hiến của hai người cho nhau và lòng trung tín trong tình yêu. Người chồng và người vợ không thể tận hiến cho nhau một cách trọn vẹn, khi mà trong đầu óc của họ vẫn lấp ló một ý nghĩ, là mối dây liên hệ mật thiết ràng buộc trong tình nghĩa vợ chồng vẫn có thể bị tan vỡ. Xét về phương diện tâm lý thì tự bản chất tình yêu của con người đã qui hướng về bạn đường trăm năm. Mục đích của việc bảo vệ và giúp đỡ chăm sóc lẫn nhau là một điều tối cần thiết, nhất là trong khi gặp hoàn cảnh khó khăn, điều này chỉ có thể đảm bảo trong bậc sống hôn nhân khi quan hệ vợ chồng là một quan hệ vĩnh viễn. Quả vậy, tình yêu chân thật trong đời sống hôn nhân không thể giới hạn trong một khoảng khắc nào đó. Nghĩa là hôm nay thì tôi yêu em, nhưng ngày mai thì không còn nữa.
Việc khẳng định rằng mối dây ràng buộc trong đời sống hôn nhân là bất khả phân ly tạo nên một thế lực rất mạnh, nhằm để bảo vệ lợi ích tình yêu vợ chồng và lòng trung thành. Nó mang lại một động lực rất mạnh, hầu giúp cho đôi vợ chồng chấp nhận, chịu đựng những khuyết điểm của nhau trong kiên nhẫn và bảo tồn sự hiệp nhất cũng như hoà thuận với nhau. "Nếu định chế hôn nhân và gia đình không có một nền tảng vững chắc, thì xã hội sẽ trở nên nghèo nàn, và điều đó đã làm mất đi cái nét yêu kiều của bộ mặt con người. Con người sẽ trở nên cô lập, tính toán so đo với nhau và những mối liên hệ giữa con người với nhau chẳng qua là để vụ lợi. Nó còn làm cho sự đoàn kết mỗi ngày một rạn nứt lớn hơn." Qủa thật chí lý khi nói rằng: "Dấu ấn của tình yêu chân thật là lòng trung thành."

2. Sự phân ly trong hôn nhân gây tác hại cho trẻ em.
Một khi mà mối dây liên hệ ràng buộc trong đời sống hôn nhân bị lỏng lẻo, thì con cái bị tước đoạt đi tình cảm của bố hoặc mẹ nó hay cả hai, và điều ấy hiển nhiên ảnh hưởng đến sự tự tin của chúng, việc học hành và gây nên sự bất ổn trong tâm hồn. Sự mất mát đối với trẻ em thì không thể bồi hoàn lại được.
"Có thể nói không ai chịu nhiều đau khổ hơn các em khi ba mẹ chúng ly dị. Các em là nạn nhân chính trong các cuộc ly dị. Thật vậy, các em là của hy sinh cho sự yếu hèn của cha mẹ. Ly dị được cảm nhận bởi các em như là một sự khước từ của cha mẹ đối với chúng ." (xem "Love Is For Life" - Lá thư mục vụ của Hội Đồng Giám Mục Ái Nhĩ Lan (1985) .
Thông thường thì các em sẽ gặp phải nhiều vấn nạn và khó khăn khi chúng phải trải qua cuộc ly dị của ba mẹ. Một cha ghẻ hay dì ghẻ không thể nào có thể thay thế cho một người cha hay người mẹ của các em, mặc dầu có rất nhiều những cha mẹ ghẻ đã làm hết sức của họ. Một em khi phải sống với cha hay mẹ ghẻ của mình thì khả năng bị đối xử tàn tệ có thể diễn ra thường xuyên hơn khi em ấy sống với cha mẹ ruột của mình.
[9]
Lợi ích của con cái ít khi được sử dụng để coi đó như một sự ép buộc cha mẹ không được phép ly dị, nhưng ngược lại, nó dùng để đấu tranh cho sự bền vững của mái ấm gia đình.

3) Lợi ích của xã hội đòi hỏi gia đình phải bền vững.
Chỉ có phương cách ấy thì việc giáo dục lành mạnh cho các thế hệ trẻ có thể được bảo đảm; và sự tương thân, tương trợ đoàn kết lẫn nhau trong cùng một cộng đoàn mới được bảo vệ và nâng đỡ. Chính quyền không những chỉ có trách nhiệm và bổn phận giải thể những cuộc hôn nhân bị trục trặc, nhưng họ còn phải có trách nhiệm cung cấp những dịch vụ tư vấn về phương diện gia đình hầu giúp đỡ việc hoà giải và tái lập những hôn nhân đã bị đổ vỡ.

4) Lý luận sau cùng là một lý luận mang tính chất thần học.
Điều này được xây dựng trên nền tảng của Bí tích Hôn nhân Công Giáo, bởi nó chỉ được áp dụng cho Ki-tô hữu mà thôi. Đức Giê-su Ki-tô gợi lại cho những kẻ đi theo Ngài, việc nhân nhượng cho phép người Do-thái rẫy vợ theo luật của Mô-sê; và trong thư gởi cho giáo đoàn Côrintô (1Cr 7,12-16), thánh Phaolô cũng đã nhân nhượng cho phép họ được ly dị chỉ trong trường hợp hôn nhân không Công Giáo (nghĩa là giữa hai người chưa chịu phép Thanh Tẩy). Ngược lại hôn nhân Công Giáo, một khi đã thành sự và trở nên bí tích thì không thể giải được.
Chúng ta thấy Bí tích Hôn nhân Công Giáo cũng được nhắc đến trong thư của thánh Phao-lô gửi cho giáo đoàn Ephêsô (Ep 5, 21-33). Bản văn này đã so sánh giữa hôn nhân Ki-tô giáo và sự hiệp nhất của Đức Ki-tô với Giáo Hội, như đã nhắc tới ở phần trên "Hôn nhân Ki-tô giáo là dấu chỉ hữu hiệu, là Bí tích của Giao Ước giữa Đức Ki-tô và Hội Thánh" (x. GLCG, số 1617).
Thánh Phao-lô còn nói thêm: "Người làm chồng hãy yêu thương vợ như Đức Ki-tô yêu thương Hội Thánh, và hiến mình vì Hội Thánh … Còn những người làm vợ thì hãy tùng phục chồng mình, như Hội Thánh tùng phục Chúa Ki-tô". Nhưng chúng ta cần ghi nhớ điều này: là chúng ta đang sử dụng phương pháp loại suy, để so sánh, do vậy điều ấy có thể trở thành quá khắc khe, khi chúng ta đi đến một kết luận được suy ra từ một giao ước siêu việt có tính cách vĩnh cửu, tuyệt đối giữa Đức Ki-tô và Hội Thánh (Hội Thánh được ví như nàng dâu, chỉ là một cách nói bóng bẩy, đầy tính chất ẩn dụ; và những phần tử cá nhân của Hội Thánh thì đã luôn luôn không trung thành với giao ước), rồi đặt nó ngang hàng với vĩnh viễn và tuyệt đối của giao ước hôn nhân, điều này xét cho kỹ thì nó rất khác biệt, một trật tự không chắc chắn. Theodore Mackin, S.J. trong tác phẩm rất nổi tiếng: Divorce and Remarriage, (Ly Dị và Tái Hôn) (1984), trang 530-537, đã đưa ra một nhận xét như sau: Điểm then chốt trong việc so sánh (bằng phương pháp loại suy của thánh Phao-lô trong Eph 5,21-33) giữa Chúa Ki-tô và Hội Thánh, chính là tình yêu tự hiến và niềm tin tưởng, điều ấy cùng lúc cũng có hiệu lực phát sinh và gây sống động cho sự liên hệ mật thiết giữa vợ chồng với nhau, chứ không có ý ám chỉ đến việc bất khả phân ly của hôn nhân. Để có một chứng cớ rõ rệt nhằm đi đến kết luận về việc bất khả phân ly của hôn nhân qua Bí tích Hôn Phối, chúng ta cần phải có thêm những lý chứng khác nữa. Nói vắn gọn, chúng ta không thể chỉ nại đến mối liên hệ mật thiết giữa Chúa Ki-tô và Hội Thánh để đưa ra một hệ luận cho việc cấm không được ly dị.
Để kết luận, vì hôn nhân tượng trưng cho một mối liên hệ hết sức mật thiết giữa người nam và người nữ và được nối kết trong việc sinh sản và giáo dục con cái, cho nên hôn nhân mang tính cách hợp nhất và vĩnh viễn. Thêm vào đó, ngay từ giây phút ban đầu, vợ chồng phải mang một trách nhiệm lớn lao và có bổn phận phải gìn giữ, bảo vệ và làm cho đời sống hôn nhân càng ngày càng thắm thiết, kết hợp chặt chẽ hơn. Họ có trọng trách không để cho hôn nhân của mình bị tan vỡ và chết đi. Đây là điều cầm buộc riêng cho những ai đã đi vào đời sống hôn nhân, vì đó là bí tích, là dấu chỉ cho trần gian, và bằng cuộc sống tốt đẹp lứa đôi của họ, họ chiếu giải khuôn mặt và tình yêu của Đức Ki-tô cũng như lòng tín trung của Ngài đối với Hội Thánh.

Linh Mục Trần Mạnh Hùng C.SsR., S.T.D

[1] . Xem bản tin gởi đi từ Ottawa, “Same-Sex Marriage: Not in Kids' Interest,” do Zenit News phổ biến ngày 21.05.2005.
[2] . Xem “Marriage As a Public Good,” Princeton, New Jersey, 25.02.2006.

[3] . Xem Phạm Hồng Lam, "Gia đình ta, gia đình tây và vấn đề hội nhập," Trong Tập San Định Hướng, số 28, mùa thu 2001, trang 29 - 39, đặc biệt là trang 33.

[4] . Thể theo như quan niệm của Thánh Augustinô. Tuy nhiên, đến thời Công Đồng Vaticanô II, thì quan niệm ấy đã được thay đổi. Công Đồng Vaticanô II đã nhấn mạnh đến tình yêu, trong khi không chỉ lưu ý đến khía cạnh pháp lý của hôn nhân, nhưng đã đề cao phương diện nhân vị. Nên, bây giờ ta phải nói rằng hôn nhân là để vợ chồng yêu nhau và tự hiến cho nhau, nhờ đó mà sinh sản con cái, vì chính tình yêu vợ chồng cũng như hôn nhân đều hướng về việc sinh sản. Giữa tình yêu vợ chồng và việc sinh sản con cái không có sự mâu thuẫn gì cả, trái lại nếu bỏ một trong hai, sẽ không thể hiểu điều kia được. Xem Công Đồng Vaticanô II về đời sống gia đình trong Hiến chế Mục Vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Này, số 48, "Gaudium et Spes., 48".

[5] . Xem Zenith International News Agent đăng ngày 3 tháng 11 năm 2001 trong bài "Europe and Australia, Family Life Is Fraying: Divorce and Falling Tax Breaks Are Taking Their Toll."

[6] . Xem Bernard Haring, C.Ss.R., No way out? - Pastoral Care of the Divorced and Remarriaged. (England: St Paul Publications, 1989), tr. 67.

[7] . Chúa Giêsu phán: "Các anh em hãy nên hoàn thiện như Cha trên anh em trên trời là Đấng hòan thiện." (Mt 5, 48). Lẽ dĩ nhiên, con người với thân xác phàm hèn, không thể nào có thể đạt tới sự hòan thiện như T.C. Cho nên, lời mời gọi này của Chúa Giêsu, theo các nhà chú giải Kinh Thánh, thì họ cho rằng đây là một lời khuyên hơn là một mệnh lệnh.

[8] . Xem Geoffrey Robinson, J.D., Marriage Divorce and Nullity: A Guide to the Annulment Process in the Catholic Church. (Melbourne: Colin Dove, 1989).

[9] . Theo thống kê của một tờ báo Mỹ, News Week, phát hành ngày12 tháng 3 năm 1989, trang 27